Nhật Hoàng Hirohito Và Công Cuộc Kiến Thiết Nước Nhật Hiện Đại

Amazon.com: Hirohito and the Making of Modern Japan (8601409904528 ...

Hirohito And The Making Of Modern Japan, Herbert P. Bix

Về tác giả 

Herbert P. Bix là Tiến sĩ sử học Đại học Harvard. Thành viên sáng lập Ủy ban học thuật Á châu. Ông nghiên cứu lịch sử Nhật Bản và giảng dạy tại Đại học Hitotsubashi Tokyo. 

Tác phẩm của ông đã giành giải Pulitzer. 

Nội dung chính 

Giai đoạn lịch sử cận đại của Nhật Bản gắn liền với cuộc đời của Nhật Hoàng Hirohito. Gần 90 năm hào hùng, sóng gió và tủi nhục, nhưng người dân vẫn kiên trì, chịu đựng và vượt qua để xây dựng một nước Nhật giàu có, hùng mạnh như một điều kỳ diệu của thời hiện đại. 

Phần 1 – Quá trình học tập của Hoàng tử Hirohito (1901 – 1921)

Ngày 29/4/1901, người cháu nội đầu tiên của Minh Trị Thiên Hoàng ra đời, Hoàng tử Hirohito. Cha của Hirohito là Hoàng thái tử Yoshihito, người sẽ kế vị ngôi vàng, đang ở tuổi 21 nhưng đau yếu kinh niên. 

Theo vú nuôi của Hirohito, bà Taka, Nhật Hoàng Minh Trị cực kỳ xa cách đối với cháu nội và hiếm khi gặp cháu trừ vào ngày sinh nhật của chúng. Mối liên hệ Hirohito với Nhật Hoàng Minh Trị giống như mối liên hệ với “Minh Trị Thiên Hoàng vĩ đại” hơn là với một người ông thực thụ. Với niềm tin Nhật Bản là một vương quốc thiêng liêng, được Thượng đế bảo trợ và dưới sự cai trị của một Thiên Hoàng là hậu duệ của Nữ thần Mặt trời. Và dựa trên hiến pháp, Hirohito được thừa kế và bắt đầu đào tạo để tiếp quản ngai vàng. 

Lúc Hirohito lên 7 tuổi, cậu vào học tại Học tập viện. Nogi, một người anh hùng trong cuộc chiến Nga-Nhật làm hiệu trưởng trường này. Tướng Nogi thích giáo dục theo phong cách quân sự, ông từ chối mông chiều vị hoàng tử nhỏ. Do Hirohito không phải là đứa trẻ khỏe mạnh, các giáo viên phải dành thời gian để giáo dục thể chất và rèn luyện sức khỏe cho cậu. Nogi chú ý hướng dẫn Hirohito kỹ lưỡng về các vấn đề quân sự. Năm Hirohito 11 tuổi, ông trở thành Hoàng thái tử và được phong cấp thiếu úy quân đội và thiếu úy hải quân. Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất Hirohito phải thực hiện là trở thành hiện thân của tử tưởng và đạo đức Nhật Bản. Những quý tộc triều đình dạy cho ông các nghi lễ về thần đạo. Sugiura giảng dạy về đạo Khổng; Yamazaki và một số giảng viên khác giảng dạy về kinh tế; Shimizu giảng dạy về hiến pháp Minh Trị; Mikami giảng dạy về lịch sử và chính trị; Hattori giảng dạy về tự nhiên và vật lý. Đặc biệt, trong thời gian còn nhỏ tuổi, Hirohito quan tâm về thế giới tự nhiên, ông đam mê sưu tập sò biển và côn trùng. Năm 12 tuổi, ông viết một cuốn sách về côn trùng, minh họa mối liên hệ giữa côn trùng và thực vật. 

Hirohito là sản phẩm của một nền giáo dục kết hợp, đó là truyền thống ở cuối thời Minh Trị và kiến thức khoa học hiện đại. Do đó, trên gương mặt nghiêm nghị của ông thường hiện lên sự căng thẳng, sự xung đột giữa hai thế giới quan. 

Khi Hoàng Thái tử Yoshihito lên ngôi, tức Nhật Hoàng Đại Chính, ông chỉ là một Nhật Hoàng trên danh nghĩa, tình trạng sức khỏe của ông ngày càng xấu đi, cuộc khủng hoảng lương thực nổ ra trên toàn quốc; các vụ phạm tội khi quân liên quan đến việc chỉ trích Hoàng gia liên tục xảy ra. Chính phủ tìm cách ngăn chặn mối đe dọa đối với nền quân chủ do chịu ảnh hưởng từ các tư tưởng mới thâm nhập vào Nhật Bản. Cách tốt nhất trong hoàn cảnh này, theo thủ tướng Hara, là thu xếp cho Thái tử Hirohito thực hiện chuyến đi “tìm hiểu” châu Âu. 

Các thể chế quân chủ lớn ở châu Âu đã sụp đổ, phong trào hòa bình dân chủ được thành lập. Sống trong một thế giới chống quân chủ, Hirohito phải đối phó bằng các yêu cầu cải cách xã hội. Hirohito phải là người thành công nếu Hoàng gia muốn tiếp tục tồn tại. 

Ngày 3/3/1921, Hirohito và đoàn tùy tùng rời Nhật Bản trên con tàu chiến Katori, xuyên qua các lãnh thổ HongKong, Singapore, Srilanka đến Cairo, Malta, Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan và Ý. Ngày 2/9/1921 tàu trở về tới Nhật Bản. 

Chuyến công du phương Tây của Hirohito đã giúp quảng bá hình ảnh về vị Hoàng Thái tử trẻ tuổi, đầy nhiệt huyết của thời đại. Ông quan tâm đến cách quản lý thuộc địa của Anh. Ông sẵn sàng đón nhận sử thay đổi; tức sự cần thiết phải tiến hành cải tổ chính trị. 

Hirohito và nhóm người giúp việc của ông, họ chú ý đến cảm nhận về George đối với các mối quan hệ dân chúng. Trong thời đại mới, sự khéo léo sử dụng nghi thức triều đình như một chiến lược để duy trì ảnh hưởng chính trị của chế độ quân chủ. Đó là một trong những bài học mà Hirohito học được từ chuyến đi. 

Ngày 25/11/1921, Hirohito trở thành quan nhiếp chính cho cha. Những mong muốn lớn lao của Hirohito phụ thuộc vào việc ông giành được tự do hơn trong việc thực hiện quyền hành. Bằng sức trẻ, được sự giáo dục đặc biệt, sự tôn trọng những người lớn tuổi cận kề bên cạnh và việc coi trọng truyền thống của triều đình, đối với Hirohito, việc này không hề dễ dàng. 

Phần 2 – Chính trị với mục đích tốt đẹp (1922 – 1930)

Chế độ nhiếp chính – Nền quân chủ – Chủ nghĩa dân tộc mới 

Khi Hirohito trở thành nhiếp chính vương tháng 11/1921, Chính phủ bắt đầu quảng bá hình ảnh của một Hoàng Thái tử cường tráng, đầy nghị lực, rất thích hợp để trở thành tổng tư lệnh tối cao của lực lượng quân đội Hoàng gia. 

Các cận thần “tài năng” của Hirohito tin tưởng rằng, bằng việc gây ảnh hưởng đối với Hirohito, họ có thể thiết lập lại nền quân chủ vững mạnh và độc lập hơn. Một tiêu chuẩn đạo đức được thổi phồng và phi hiện thực đã được đặt ra để Hirohito phấn đấu đạt được, chính áp lực này đã khiến Hirohito lo lắng. Người ta hy vọng rằng chuyến công du phương Tây sẽ giúp cho Hoàng thất trở nên gần gũi hơn với người dân và bằng cách đó ngăn trở đường lối dân chủ của Nhật Hoàng Đại Chính, cha của Hirohito, đã vô tình ủng hộ một cách bị động. 

Trong những năm làm nhiếp chính, Hirohito đã chấp nhận mà không hề hoài nghi về tính chất liên minh của nội các, quân đội có đặc quyền hơn so với các cơ quan của chính phủ. “Quân đội được đảm bảo quyền can thiệp hợp pháp vào các vấn đề chính trị”. 

Vào cuối thời kỳ nhiếp chính, Hirohito đã nhận thấy sự bất ổn về cơ chế và nhiệm vụ của quân đội, tuy nhiên, ông không nhận ra bất kỳ mối đe dọa nào tiềm ẩn trong sự bất ổn đó đối với tương lai của mình. 

Những người theo chủ nghĩa tự do đã mường tượng ra một hệ thống chính trị tồn tại song song với nền dân chủ nghị viện kiểu phương Tây; và mong muốn bảo vệ Hoàng gia bằng cách tách Hoàng gia hoàn toàn khỏi đời sống chính trị. 

Ngày 25/12/1926, Hirohito lên nối ngôi. Theo hiến pháp qui định “dòng họ Thiên Hoàng liên tục trị vì và chi phối đế chế Nhật Bản”, đồng thời, Hirohito trở thành tổng tư lệnh của lực lượng vũ trang Nhật Bản, có quyền ban bố mệnh lệnh mà không cần hỏi ý kiến của nội các. Hirohito ban bố một loạt chiếu chỉ đối với binh lính và hải quân. Quân đội vẫn được hưởng một vị thế đặc lợi. 

Bài học từ vua George V về tầm quan trọng của nghi lễ và hình ảnh để nâng cao phẩm giá và quyền lực của nhà vua. Lễ đăng quang của Nhật Hoàng Hirohito được tổ chức một cách rầm rộ theo nghi thức truyền thống, các hoạt động được tổ chức xuyên suốt cả năm, kết hợp chặt chẽ với sự mở rộng tuyên truyền của bộ máy kiểm soát tư tưởng. 

Hirohito tham gia đầy đủ hơn vào đời sống chính trị. Quanh ông là bảy cận thần giàu kinh nghiệm hướng dẫn và hoạch định chính sách đường lối, gây ảnh hưởng với ông khi họ có mặt ở triều đình. 

Ngay khi bắt đầu thời kỳ trị vì của mình, Hirohito tránh đương đầu với bất đồng về tư tưởng quốc phòng đang tiếp diễn trong lực lượng hải quân. 

Trên thế giới, xu hướng của chủ nghĩa hòa bình của thời đại hậu chiến tranh thế giới I bắt đầu xuất hiện ngày càng nhiều. Trong lúc đó, chính phủ Tanaka của Nhật đã không tán thành một nghị định thư quốc tế cấm chiến tranh hóa học và sinh học; cũng như công ước Geneve về tù binh chiến tranh vì binh lính của Thiên Hoàng sẽ không bao giờ để mình trở thành tù binh chiến tranh. Bộ trưởng quốc phòng và bộ trưởng Lục quân bất hòa sâu sắc với tổng tham mưu trưởng về vấn đề giải trừ vũ khí. Quân đội với tư cách là một tổ chức có dấu hiệu mất dần sự kiểm soát. 

Ngày 24/3/1927, binh lính của giải phóng quân nhân dân Trung Quốc cướp phá lãnh sự quán Nhật Bản ở Nam Kinh, và tấn công các tòa lãnh sự Anh, Mỹ. Cùng ngày, tàu chiến của Anh và Mỹ trên sông Dương Tử bắn phá thành phố. Các quyền lợi của Nhật Bản bị xâm phạm, Nhật Hoàng Chiêu Hòa Hirohito đã đồng ý cho quân đội Nhật Bản can thiệp vào cuộc nội chiến của Trung Quốc. Rồi vụ việc đạo quân Quan Đông của Nhật ám sát tư lệnh quân địa phương Trương Tác Lâm của Trung Quốc, người mà thủ tướng Tanaka đã dựa vào để triển khai chính sách của ông ở Mãn Châu, đã lôi kéo Mãn Châu vào những rối loạn trong các hoạt động chính trị của Nhật Bản và quốc tế. Sự việc này đã làm cho thủ tướng Tanaka và toàn bộ nội các bị cách chức. 

Ngày 27/8/1928, Nhật Bản tham gia hiệp ước chấm dứt chiến tranh. Những nước ký kết hiệp ước đã không thừa nhận chiến tranh là “một công cụ trong chính sách quốc gia” và hứa giải quyết mọi tranh chấp bằng phương pháp hòa bình. Nhưng Hirohito không coi hiệp định như một cam kết để giải quyết bằng phương pháp hòa bình toàn bộ tranh chấp phát sinh với Trung Quốc về quyền thuê đất theo hợp đồng của Nhật Bản tại Mãn Châu. Quan điểm của Hirohito, cũng giống như Tachi, người thầy cũ cũng là cố vấn cho Hirohito, là hiệp ước không ngăn chặn việc không dùng vũ lực của Nhật để bảo vệ lợi ích của mình tại Trung Quốc. Ông coi đây là một nỗ lực của các cường quốc Anh – Mỹ để ổn định trật tự quốc tế sau chiến tranh nhằm đem lại lợi ích riêng cho các cường quốc đó. 

Hiranuma, phó chủ tịch hội đồng cơ mật, đã quan sát tình hình mà nước Nhật đang gánh chịu ảnh hưởng của đại suy thoái. Ông công kích chủ nghĩa tự do phương Tây, thông báo về bước ngoặt giữa chủ nghĩa dân tộc mới và chủ nghĩa quốc tế mà Nhật Bản đã theo đuổi từ năm 1922. 

Cuộc khủng hoảng ở lục địa châu Á ngày càng tồi tệ, tướng Nakamura của đạo quân Quan Đông tại Mãn Châu mất tích, họ cho rằng lính Trung Quốc bắt và sát hại, họ buộc tội người Trung Quốc coi thường quân đội Hoàng gia. Đạo quân Quan Đông tăng sức ép với chính quyền Phụng Thiên. Hirohito và những cận thần cảm thấy sự bất ổn ngày càng tăng trong quân đội. Họ đã đánh giá rất thấp chủ nghĩa phe phái cũng như quân đội và họ cũng chẳng có động thái nào ngăn chặn kịp thời nguy cơ này, bởi họ đương nhiên ủng hộ sứ mệnh của quân đội tại Mãn Châu kể từ 1905. 

Phần 3 – Những cuộc chiến của Thiên Hoàng (1931 – 1945)

Sự kiện Mãn Châu 

Đêm 18/12/1931, các sĩ quan thuộc quân đoàn Quan Đông cho nổ mìn gần tuyến đường sắt nam Mãn Châu và đổ lỗi cho binh sĩ của Trương Học Lương người Trung Quốc, dù không gây hại gì nhưng quân Nhật cớ tấn công quân Mãn Châu Trung Quốc đang trấn giữ Phụng Thiên. Bị tấn công bất ngờ, quân Trung Quốc lớp bỏ chạy, lớp đầu hàng. 

Các thành viên trong nhóm triều đình ủng hộ chủ trương của quân đội. Quân Nhật ở Triều Tiên xin lệnh vượt qua sông Áp Lục vào Mãn Châu. Nhật Hoàng Hirohito đứng trước cơ hội để hậu thuẫn cho chính phủ kiểm soát quân đội và chấm dứt tình hình chiến sự leo thang. Nhưng rồi, Hirohito đành chấp nhận tình hình như sự đã rồi. Bộ ngoại giao Nhật quyết định hủy bỏ cuộc đàm phán với chính phủ Tưởng Giới Thạch. Hội đồng Hội Quốc Liên ra nghị quyết đề nghị Nhật Bản rút quân khỏi các vùng chiếm đóng. Quân đoàn Quan Đông bất tín nhiệm chính phủ đa đảng phái và quyết tâm đặt Nội Mông và Mãn Châu dưới quyền kiểm soát của người Nhật. 

Phe triều đình chuyển hướng chú ý cuộc khủng hoảng chính trị trong nước. Đại tá Hashimoto quyết định lật đổ chính phủ, thủ tướng Inukai bị sát hại, nhóm “Đảng Huyết thệ” bí mật sát hại một số lãnh đạo doanh nghiệp, họ rải truyền đơn kêu gọi thanh lọc triều đình. 

Đô đốc Saito được bổ nhiệm làm thủ tướng, ông xây dựng Mãn Châu quốc, rút lui khỏi Hội Quốc Liên, cơ cấu lại chính phủ. Tuy nhiên, Hirohito lo lắng quân Quan Đông sẽ mở chiến dịch Bắc Kinh – Thiên Tân sau cuộc tấn công vào tỉnh Nhiệt Hà, vì như thế sẽ đối đầu với các đại cường quốc. 

Tướng Minami nhấn mạnh rằng an ninh quốc gia, nguyên liệu thô, nhu cầu mở rộng lãnh thổ để giải quyết vấn đề dân số là những lý do khiến quân đội lập nên “Mãn Châu Quốc độc lập”. 

Quốc Dân đảng Trung Quốc đã phải nhục nhã ký hiệp định đình chiến với Nhật, công nhận trên thực tế nước Đại Mãn Châu và thiết lập một vùng phi quân sự ở phía nam Vạn Lý Trường Thành. Nhật Hoàng Hirohito tin chắc rằng, ưu thế quân sự chứ không phải ưu thế về năng lực sản xuất mới là yếu tố quyết định chiến thắng. 

Phục hồi và suy thoái 

Khi Nhật công nhận Mãn Châu quốc và rút khỏi Hội Quốc Liên, phần lớn người Nhật điều cảm thấy có sự chuyển biến căn bản nào đó: Nước Nhật đã mở ra con đường mới và vươn tới hiện đại, sẽ trở nên vĩ đại và được kính nể hơn trên thế giới. Từ đó xây dựng nền tảng tư tưởng để biến Hirohito thành một bậc hiền vương của toàn cỏi châu Á. 

Vào mùa xuân năm 1933, Hirohito phải đối mặt với vấn đề kỷ cương trong quân đội: Quân đội đấu tranh đòi cải cách nhà nước và tăng chi tiêu quân sự. Họ công kích các quan cận thần của Nhật Hoàng và những người khác trong Hoàng tộc. Việc ra lệnh thuyên chuyển toàn bộ sư đoàn Một tới Mãn Châu đã châm ngòi cho cuộc chính biến tháng 2/1936. Một bộ phận lớn lực lượng sư đoàn Một chiếm giữ bộ Lục quân, trụ sở cảnh sát, các dinh thự các bộ, rồi sát hại Tổng quản Quốc Ấn Saito, bộ trưởng tài chính và chánh thanh tra quản giáo, tấn công văn phòng các tờ báo lớn ở Tokyo. 

Bộ Hải quân tập hợp chiến hạm ở vịnh Tokyo để sẵn sàng dập tắt cuộc nổi loạn. Hirohito vừa tức giận vừa lo sợ quân nổi dậy có thể thu nạp em mình – Hoàng thân Chichibu hòng buộc ông thoái vị. Hirohito thể hiện sự năng nổ khác thường trong việc tìm cách dập tắt cuộc nổi loạn. Ông ra lệnh “thiết quân luật”, ông kêu gọi các lực lượng và ra lệnh các cấp chỉ huy trấn áp cuộc nổi dậy. Bốn ngày sau, Nhật Hoàng ổn định được quyền lực của mình. 

Sau cuộc chính biến, nội các Hirota Koki thành lập. Nhật Hoàng nhất trí với yêu cầu của Lục quân và Hải quân tăng cường vũ trang nhanh chóng cho quân đội theo quy mô lớn của Đức Quốc xã, ký với Đức hiệp định cùng chống Quốc tế Cộng sản. Một năm sau, Ý tham gia hiệp ước này. Liên minh quốc tế với các chế độ độc tài, Quốc xã và Phát xít mới nổi. Nhật Bản chuẩn bị bành trướng quân sự trên lục địa; bằng Hải quân, kiểm soát Tây Thái Bình Dương và tuyến hàng hải Đông Nam Á, tạo thế cân bằng trong quan hệ với các đại cường quốc trên thế giới. 

Cuộc chiến tranh thần thánh 

Ngày 8/7/1937, quân đội Nhật đóng ở Phong Đài đụng độ với lực lượng đồn trú của Trung Quốc ở cầu Marco Polo cách Bắc Kinh khoảng 20 dặm. 

Tại Tokyo, Bộ Lục quân coi sự kiện ở cầu Marco Polo là một cơ hội, khu phi quân sự thường xuyên bị xâm phạm, họ bảo cần điều động quân đội tới khu vực gần Bắc Kinh để “bảo vệ sinh mạng và tài sản của người Nhật”. Quân đoàn Quan Đông, quân đoàn Triều Tiên và trong nước được điều động tới. Nhật Hoàng ngầm nhất trí với quyết định đó. Cuộc chiến tranh với Trung Quốc bắt đầu. Hirohito hối thúc quân đội đánh một trận quyết định để kết thúc chiến tranh vào 27/7. 

Ngày 29/7, ở thành phố Đô Châu, phía đông Bắc Kinh, lực lượng An Ninh Trung Quốc thân Nhật đã nổi dậy tấn công cộng đồng dân cư Nhật ở đó. Quân Nhật khai thác biến cố này tiến quân nhằm kiểm soát Bắc Kinh – Thiên Tân. Tưởng Giới Thạch rời bỏ miền Bắc xuống vùng Thượng Hải. Không quân Trung Quốc, Hải quân Nhật tham gia cuộc chiến. Chính phủ Nhật gọi đây là cuộc “đấu tranh thiêng liêng” hay “thánh chiến” để đoàn kết thế giới dưới sự cai trị nhân từ của Thiên Hoàng. 

Cuối tháng 10, cuộc chiến tranh giành giật từng tấc đất ở xung quanh Thượng Hải có dấu hiệu sắp đến hồi kết. Binh sĩ của Tưởng Giới Thạch rút chạy tán loạn dọc theo sông Dương Tử về hướng Nam Kinh. Quân đội Nhật bắt đầu sử dụng quyền tự quyết, bất chấp mệnh lệnh của chỉ huy từ Tokyo. Bất kể lính hay thường dân còn ở ngoài thành đều bị tiêu diệt. Họ đốt phá, cướp bóc các làng mạc trên đường tiến quân. Ngày 13/12 thành Nam kinh thất thủ, binh lính Nhật bắt đầu hành quyết hàng loạt tù binh dù họ không có vũ khí và đã đầu hàng. Hành động đốt nhà, cướp của, giết người, hãm hiếp tiếp diễn trong nội thành và các làng ngoại ô lân cận trong suốt 3 tháng với mức độ vô cùng dã man. Lính Nhật phạm những tội ác khủng khiếp này phát xuất từ tình trạng vô kỷ luật, tư tưởng xô-vanh chủng tộc và tâm lý căm thù đến đỉnh điểm. Hirohito rất lo lắng nguy cơ đổ vỡ kỷ luật trong quân đội nhưng ông không biết phải làm gì. 

Mùa hè năm 1940, Đức chinh phạt Tây Âu, Anh bị đơn độc và có nguy cơ bị xâm lược. Liên xô ký hiệp ước với Hitler trong bối cảnh đó, Hirohito dao động, không biết nên giữ vững lập trường của phe quân đội muốn tham gia hiệp ước ba bên chống lại Mỹ và Anh hay thay đổi lập trường! 

Bế tắc và leo thang 

Hirohito biết rằng, Nhật đã ký kết hiệp ước tù binh chiến tranh, nhưng ông không hề ra lệnh cho lực lượng vũ trang của mình để ngăn ngừa thảm sát hay ngược đãi tù binh Trung Quốc. Giới trí thức Nhật cho rằng, luật pháp quốc tế chỉ là sự bịa đặt của phương Tây. Hirohito phải gánh trách nhiệm về việc sử dụng khí độc và vũ khí hóa học với binh lính và thường dân Trung Quốc và Mông Cổ. Một số tướng lĩnh của Nhật cho rằng, họ sử dụng hơi độc để khôi phục uy danh của quân đội và tạo cho họ “cảm giác thắng trận”! 

Ở châu Âu, tháng 6/1940, chính phủ Pháp đã rời Paris, Ý bắt đầu tham chiến, Đức đã chiếm được Pháp và lục địa, châu Âu đến tận biên giới Liên Xô. Các lãnh đạo của Hải quân và Lục quân NHật tin Hitler sẽ nhanh chóng đè bẹp Anh. Nhật sẽ gia nhập hiệp ước ba bên, hưởng ứng theo chiến lược của Hitler, tham gia vào trật tự thế giới mới. Nhật sẽ chiếm lấy các thuộc địa của Anh, Pháp và Hà Lan ở Đông Nam Á. Nhưng Hirohito lấy làm phiền lòng về sự mất đoàn kết, tranh giành và tị nạnh trong việc giành quyền lãnh đạo giữa các cơ quan chính phủ và các đơn vị quân đội ở hải ngoại muốn thực thi chiến lược nam chinh. 

Đúng lúc đó, Roosevelt tăng cường hỗ trợ nước Anh. Mỹ quan niệm Đông Nam Á và bán đảo Đông Dương khác với Trung Quốc, phải được giữ vững, chủ yếu là vị lợi ích các nước Đồng Minh châu Âu đang bị vây khốn. Và về lâu dài là quan trọng hơn đối với Mỹ về thương mại. Trước mắt, Mỹ theo đuổi chiến lược đánh bại nước Đức trước, tập trung vào mặt trận châu Âu, ở Thái Bình Dương thì Mỹ sẽ phát động phòng thủ là chính. 

Ở Nhật, chính phủ ra lệnh thành lập “văn phòng Thánh Đạo” với nhiệm vụ huy động tinh thần toàn dân tộc chuẩn bị cho chiến tranh toàn diện, hô hào toàn dân “tôn kính các vị thần thánh và phụng sự Tổ quốc”. 

Trước thềm trận Trân Châu Cảng 

Chiến dịch quân sự của Đức ở Ban-căng và sự tan vỡ tổng thể của mối quan hệ Nga-Đức. Nhật Hoàng Hirohito cảm thấy cần khẩn trương phòng thủ biên giới của Nga ở Viễn đông. Ngày 13/4, tướng Tatekawa của Nhật và Molotov của Nga ký hiệp ước trung lập 5 năm, cam kết tôn trọng lãnh thổ của nhau. Ngày 28/7, Nhật đàm phán với chế độ Vichy ở Pháp mở đường cho sự chiếm đóng hòa bình phần phía Nam Đông Dương thuộc Pháp, chuẩn bị thâu tóm nguồn tài nguyên ở lãnh thổ Đông Ấn thuộc Hà Lan và Malaysia thuộc Anh. 

Tổng thống Mỹ Roosevelt đáp trả bằng việc cấm vận kinh tế hà khắc đối với Nhật: phong tỏa tài sản của Nhật ở Mỹ, cấm vận xăng dầu, nguyên liệu thô. Đồng thời tăng cường phòng vệ ở Philippines, cử tướng MacArthur làm tổng tư lệnh ở vùng viễn đông. 

Chính phủ Konoe của Nhật gần như hoảng loạn, sự tranh cãi, chia rẽ giữa bộ Hải quân và Lục quân về một giải pháp cho cuộc khủng hoảng. Nhật Hoàng và các cận thần tin chắc chiến tranh là không thể tránh khỏi. Cần viện ra một lý do hợp lý để tiến hành chiến tranh. Tuy nhiên, đàm phán ngoại giao là một biện pháp. 

Hirohito đặt nhiều hy vọng cho các cuộc đàm phán với Mỹ, nếu không thành công hãy cố gắng dắt mũi Mỹ cho đến tận thời điểm mà ông và bộ chỉ huy tối cao đã sẵn sàng cho cuộc chiến sinh tử. 

Ngày 26/11, Mỹ trao cho các đại sứ Nhật một “Bản thảo tuyên bố chính sách chung” và bản đề cương 10 điểm về nội dung, nguyên tắc cho một hiệp định toàn diện thay vì một thỏa thuận đình chiến. Chính phủ Nhật cảm nhận tinh thần của bản thông điệp một giọng điệu cao ngạo. Giờ đây, họ có thể đổ lỗi rằng chính phủ Mỹ đã “buộc” họ phải chọn cách chiến tranh để tự vệ. Mỹ đã kích động chiến tranh. 

Cuối cùng các bộ trong nội các ký kết vào bản chiếu thư để giữ nguyên ảo tưởng rằng Nhật Hoàng Hirohito chỉ chuẩn tấu theo các lời khuyên của các bộ trưởng trong nội các, đó là cơ chế lảng tránh trách nhiệm có từ thời Minh Trị. 

Sau đó, quân Nhật bất ngờ tấn công Singora, Bharu, căn cứ hải quân của Mỹ ở Trân Châu Cảng, căn cứ không quân Clark ở Luzon. Tổng thống Roosevelt giờ đây phải đối mặt với cuộc chiến tranh mà ông không hề mong muốn. 

Trọng trách của chỉ huy tối cao 

Đối mặt với sự bóp nghẹt do cuộc cấm vận xăng dầu, Hirohito chọn phương án chiến tranh với Mỹ và Anh. Do sự rụt rè và chậm chạp, ông chưa bao giờ đủ khả năng để giải quyết mối hiềm khích giữa hai phe quân sự, để tạo sự đoàn kết cả về mục đích và hành động. Ông đang đặt vận mệnh của dân tộc và ngôi báu của mình vào cuộc chiến tranh thì việc cầu xin vô số các vị thần thánh của Thần đạo càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. 

Những tháng cuối năm 1941 đầu 1942, Nhật liên tiếp giành thắng lợi, đã tiêu diệt hoặc làm tê liệt phần lớn hạm đội Mỹ đóng ở Trân Châu Cảng và đánh chìm hạm Anh ngoài khơi Singapore. Phi công Nhật bắt đầu chinh phạt Philippines, Guam, đảo Wake và HongKong lần lượt thất thủ. Nhật chiếm giếng dầu của Hà Lan ở Borneo, rồi các sân bay của Anh, Mỹ ở Đông Nam Á. Hirohito lúc này say men chiến thắng, không dừng “cuộc tiến quân về phía Nam”, họ tiếp tục chiếm Timor, Batavia ở Java, Bougain ville và quần đảo Solomon, Singapore, Miến điện thuộc Anh và tràn vào Thái Lan. Ngày 18/12/1942, Nhật Hoàng tổ chức lễ mừng chiến thắng ở quảng trường Hoàng cung. 

Ngày 7/8, quân Mỹ dưới quyền tướng MacArthur bắt đầu mở các cuộc phản công vào Tulagi, Guadalcanal, Solomon. Các trận đánh kéo dài 6 tháng làm tê liệt không lực Hải quân Nhật. 

Tháng 2/1944, Mỹ tiến vào Trung Thái Bình Dương, ba chiến hạm của Nhật bị đánh đắm. Saipan, Guam, Tinia lần lượt thất thủ vào tay quân Mỹ. Trong lúc này, ở châu Âu, quân Đồng minh đã đổ bộ lên Normandy, quân Liên-xô đã tiến vào Ba Lan. Quân Ý thì đã tan rã trước đó. Hirohito đang cảm thấy hoang mang. Dù biết máy bay B-29 của Mỹ sẽ ném bom Tokyo, nhưng chính phủ Nhật không chịu xem xét phương án cầu hòa sớm. 

Sáu tháng đầu năm 1945 quân Mỹ đã chiếm lại gần hết Luzon, Iwo Jima và Okinawa, tuy nhiên cuộc chiến đấu ở đây, lực lượng hai bên đều bị thiệt hại rất nhiều. Hirohito thúc ép chỉ huy quân đoàn 32 ở Okinawa phải tấn công hoặc đổ bộ đánh úp địch. Trận chiến ở Okinawa trở nên khốc liệt, kéo dài hơn 2 tháng, chủ yếu là các cuộc tấn công cảm tử. Cuộc chiến tranh tổng thể đã có dấu hiệu thất bại nhưng quân Nhật vẫn ngoan cố tiếp tục chiến đấu. Đối mặt với những cuộc thất bại liên tiếp, Hirohito lại đang chối bỏ sự nhìn nhận của lý trí, không chịu chấp nhận nó. 

Lần lữa trước khi đầu hàng 

Tháng 3/1945, binh đoàn không quân Thái Bình Dương của Mỹ huy động 334 chiếc B-29 không kích ban đêm bằng bom cháy lên thành phố Tokyo. 40% Tokyo trở thành tro bụi, gần 100 nghìn người bị thiêu sống. Nhiều thành phố khác cũng bị không kích. Hirohito bắt đầu muốn có hòa bình và tìm cách kết thúc chiến tranh. 

Máy bay của Mỹ cũng thả 7 triệu tờ truyền đơn in bằng tiếng Nhật kêu gọi đầu hàng. Tuyên bố Potsdam được đưa ra ngày 26/7/1945 như một tối hậu thư, đưa ra nguyên tắc đầu hàng vô điều kiện. Chính phủ Nhật kỳ vọng không tưởng về việc đàm phán thông qua Liên-xô. Mặt trận châu Âu đã giảm gánh nặng cho Hồng quân Liên-xô, và họ có dự định giành một chỗ đứng ở Đông Á trong tương lai nên đã hủy bỏ hiệp ước trung lập với Nhật Bản. Hirohito và hội đồng lãnh đạo tối cao không nghĩ đến việc lập tức đầu hàng mà chỉ nghĩ đến việc lập lại hòa bình thông qua đàm phán, chính phủ Suzuki của Nhật muốn Đồng Minh phải đảm bảo sự tồn tại của một nền quân chủ Nhật Bản với ý nghĩa và quan điểm Thần đạo – Quốc học chính thống và sự duy trì quyền lực của Nhật Hoàng. 

Vào 8 giờ 15 phút sáng ngày 6/8/1945, chiếc B-29 thả quả bom nguyên tử đầu tiên xuống Hiroshima, gần 140 nghìn người lập tức bị thiêu cháy cùng cây cối, nhà cửa, 8 dặm vuông chỉ là một đống tro tàn. Hai ngày sau, Liên-xô tuyên chiến với Nhật và ngày 9/8/1945 quả bom nguyên tử thứ hai được thả xuống Nagasaki, gần 40 nghìn người chết trong sự hãi hùng như ở Hiroshima. 

Qua thời gian tranh luận nội bộ, cuối cùng Hirohito phải chấp nhận về nguyên tắc các điều khoản trong tuyên bố Potsdam. Ngày 12/8/1945, Hirohito thông báo cho Hoàng gia biết rõ quyết định đầu hàng của mình. Trưa ngày 15/8, người dân Nhật tụ tập quanh các loa truyền thanh lắng nghe lần đầu tiên giọng Nhật Hoàng nói với họ rằng: “Đế chế chúng ta chấp nhận các điều khoản tuyên bố của họ” và người phát thanh viên bình luận thêm: “Chính chúng ta đã chuốc lấy một tình thế mà chúng ta không còn chọn lựa nào khác là phải hạ vũ khí… Thiên Hoàng không thể chịu đựng được việc đứng nhìn các thần dân của Người phải chết vì chiến tranh. Trước đức Thánh hiền và tình yêu thương lớn lao đến vậy, ai trong số chúng ta có thể không tự kiểm điểm lại lòng trung thành của chính mình”. 

Phần 4 – Cuộc sống không truy xét (1945 – 1989)

Tái tạo nền quân chủ 

Đường lối duy nhất của Nhật Bản thời kỳ hậu chiến được thể hiện trong lời nói của Thiên Hoàng: “… Người Nhật giỏi hơn người Mỹ về mọi mặt. Tuy nhiên, khi kết hợp thành một nhóm thì chúng ta sẽ kém cỏi hơn họ. Vì vậy, từ nay trở đi, chúng ta phải đào tạo hợp tác nhóm, khuyến khích khoa học và toàn bộ đất nước phải lao động cật lực để xây dựng một đất nước Nhật Bản mới, tốt đẹp hơn so với hôm nay”. 

Một số người lo sợ sự chiếm đóng của quân Đồng Minh sẽ mang tới điều gì. Quân đội Đồng Minh có đối xử với họ như những lính Nhật của họ đối xử với người Trung Quốc? Thủ tướng Konoe đề nghị huy động gái mại dâm để đối phó với quân đội Đồng Minh đang thèm khát tình dục qua việc thành lập “Hiệp hội giải trí và tiêu khiển”. Ngăn ngừa những mâu thuẫn với lực lượng Đồng Minh bằng cách kiềm chế, bình tĩnh, kiên nhẫn và thận trọng trong tất cả mọi tình huống. 

Tướng MacArthur thiết lập tổng hành dinh Bộ chỉ huy các lực lượng Đồng Minh (GHQ) ở Tokyo. Ông sử dụng Nhật Hoàng để hợp pháp hóa những cải cách trong thời gian chiếm đóng. Ông không truy đuổi về vấn đề trách nhiệm của Nhật Hoàng đối với cuộc chiến tranh. Ông cải cách chế độ quân chủ, Nhật Hoàng bị tách khỏi thực quyền chính trị, chỉ trở thành một biểu tượng của sự đoàn kết. Nhân dân Nhật Bản mãi mãi phản đối chiến tranh nên các lực lượng không quân, hải quân và lục quân không bao giờ được duy trì. Theo hiến pháp mới, Nhật Bản đã thật sự tạo ra một biến thể mới về “nền quân chủ lập hiến”. 

Phiên tòa Tokyo 

Ngày 9/8/1945, tướng MacArthur ra lệnh bắt giữ và tống giam những nghi phạm chiến tranh, gồm cả vị thủ tướng được tin dùng của Nhật Hoàng – tướng Tojo. Khi chuẩn tướng Fellers vừa đến Nhật, ông liền bắt tay ngay vào việc bảo vệ Hirohito khỏi bị đưa ra tòa. Cách tốt nhất để tạo nên sự vô tội của Nhật Hoàng là buộc Tojo và Shimada nhận tất cả trách nhiệm. Trước đó khi nhận được tin sắp bị bắt, Tojo cố tự sát, nhưng những cựu phụ tá của ông khuyên ông phải sống để bảo vệ Nhật Hoàng. Tojo hiểu và muốn thừa nhận điều ô nhục của mình bằng cách gánh vác tất cả trách nhiệm đối với sự bại trận. Phiên tòa xét xử tội phạm chiến tranh sẽ là một sự trình diễn “mang tính chính trị” được kết hợp một cách hoàn hảo. 

Tojo và 6 người khác bị tuyên án tử hình, mười sáu người còn lại nhận án tù từ 7 năm đến chung thân. 

Tướng MacArthur ra lệnh thi hành các án tử bằng cách treo cổ rồi hỏa táng. Tro cốt của họ được đem rải ngoài biển. Khi nghe tin Tojo chết, Hirohito đi vào phòng làm việc của mình và khóc. 

Đa số người Nhật có thái độ “tiêu cực” đối với những nhà lãnh đạo đất nước bị buộc tội, nhưng cũng cảm thấy họ đã nhận được một phán quyết công bằng. Dân chúng cảm nhận họ cần phải nỗ lực không ngừng để xây dựng lại, cải thiện và làm cho Nhật Bản trở thành một “đất nước thật hòa bình”. 

Cứu với không khí huyền bí quanh Thiên Hoàng 

MacArthur muốn Nhật Hoàng thể hiện rằng ông “thật sự quan tâm đến thần dân”. Hirohito bắt đầu tổ chức đi thăm các địa phương. Chính phủ tuyên truyền về ý nghĩa các chuyến đi, sự nhiệt tình của nhân dân ngày càng tăng lên. 

GHQ đưa ra cho Nhật những ưu tiên mới: “Nhật Bản phải trở nên độc lập về kinh tế, có khả năng nắm lấy vị trí của mình trong một trật tự thế giới được tái xây dựng dưới sự lãnh đạo của Mỹ. Nhật Bản hợp hiến sẽ “mãi mãi từ bỏ chiến tranh” như là một quyền chủ quyền của đất nước”, có thể được bảo vệ bằng cách biến đổi Okinawa thành một căn cứ quân sự Mỹ to lớn và lâu dài. 

Hirohito nỗ lực thúc đẩy bản hiệp ước hòa bình với Mỹ. 

Những năm yên bình và gia tài của Thiên Hoàng 

Ngày 28/4/1952, hiệp ước hòa bình San Francisco, hiệp ước an ninh Mỹ Nhật được ký kết giai đoạn chiếm đóng kết thúc. Về mặt quân sự, Nhật Bản bị Mỹ chi phối, vào dưới “chiếc ô hạt nhân”. Liên minh an ninh quân sự của Mỹ giúp Nhật Bản giảm bớt chi phí quốc phòng, đảm bảo cơ hội gần gũi Mỹ – thị trường có kiểm soát, công nghệ và các nguyên liệu thô. 

Theo hiến pháp, giờ đây Nhật Hoàng chỉ là một “biểu tượng”, không can thiệp vào quân sự, ngoại giao, chính trị. 

Từ tháng 2/1976, với sự trợ giúp của các cố vấn, Hirohito bắt đầu ghi lại các sự kiện lịch sử trong cả quá trình gắn với cuộc đời mình. 

Cuối đời, Thiên Hoàng đương đầu với bệnh tật và tuổi già bằng niềm tin và sức mạnh tinh thần. Các thầy thuốc ngạc nhiên về nghị lực, sức chịu đựng bên bỉ của ông, có lẽ do cuộc sống kỷ luật, lối sống giản dị ông đã rèn luyện từ thời trẻ. 

Cuối cùng, như mọi người, ông chấp nhận số phận và trút hơi thở cuối cùng vào lúc 6 giờ 33 phút ngày 7 tháng 1 năm 1989.