Học Cách Tư Duy Tích Cực

Learned Optimism, Martin Seligman

“Học cách tư duy tích cực” sẽ trả lời cho câu hỏi tại sao có nhiều người lại có lối sống vô cùng bi quan và hậu quả của lối sống này là gì. Ngoài ra, cuốn sách còn hướng dẫn người đọc cách để trở thành một người lạc quan, từ đó tận hưởng một cuộc sống khỏe mạnh và hạnh phúc hơn.

Đây sẽ là một món quà tuyệt vời cho bạn nếu:

  • Bạn muốn trở nên hạnh phúc hơn
  • Bạn từng thắc mắc rằng tại sao người khác có thể thành công một cách dễ dàng và suôn sẻ đến thế
  • Bạn muốn nuôi dạy những đứa trẻ của mình trở thành con người lạc quan

Về tác giả

Martin Seligman là một giáo tư tâm lý học, đồng thời là chủ tịch của Hiệp hội tâm lý học nước Mỹ. Ông là một trong những lá cờ đầu của phân ngành Tâm lý học tích cực, phân ngành tập trung vào việc phát triển những khía cạnh tích cực của con người. Ông cũng là tác giả của một số cuốn sách bán chạy nhất như The Optimistic Child, Authentic HappinessFlourish.

Chương 1. Con người sẽ được những lợi ích gì khi xây dựng một tư duy đúng đắn và quan điểm tích cực về thế giới của họ

Bạn đã từng thắc mắc tại sao một số người lại vượt qua khó khăn một cách dễ dàng hơn hẳn những người khác? Hoặc tại sao một vài người lại có thể mạnh khỏe và tận hưởng thành công trọn vẹn hơn người khác?

Nếu câu trả lời là có, thì chắc hẳn ít nhất một lần bạn nghĩ rằng những người đó chỉ đơn giản là đã gặp may mắn. Nhưng bạn đã từng cân nhắc xem liệu rằng có phải sự may mắn của họ là kết quả của cách nhìn nhận tích cực về cuộc sống xung quanh?

“Học cách tư duy tích cực” sẽ tập trung nói về vấn đề này. Tác giả của cuốn sách, Martin Seligman, được xem là cha đẻ cho những bước tiến của phân ngành tâm lý học tích cực, ông bắt đầu với phân ngành ngành này bằng nghiên cứu về “Căn bệnh bi quan do tập luyện”.

Trong hầu hết những thí nghiệm của Seligman, ông đã dùng phương pháp sốc điện lên những con chó. Một vài con trong số đó có thể tự giải cứu mình bằng cách dùng mũi tắt đi nút nguồn, trong khi đó số còn lại thì không thể kết thúc nỗi đau đớn ấy cho dù chúng có làm gì đi chăng nữa.

Điều làm Seligman cảm thấy ngạc nhiên và hứng thú nhất chính là việc những con chó không thể thay đổi hoàn cảnh của chúng trong thí nghiệm đó thì cũng sẽ không hề có hành động gì khi gặp phải khó khăn trong khi đó sự thật là chúng hoàn toàn có thể. Thay vào đó, chúng chỉ đơn giản là nằm một chỗ và đương nhiên, chúng hoàn toàn thất bại.

Trong khi người ta thường cho rằng khá là bình thường nếu con người cảm thấy bất lực khi gặp thất bại, thì có một thứ hoặc sẽ khiến sự bất lực ấy đeo bám ta, hoặc sẽ giúp chúng ta nhún vai bỏ qua thất bại ấy một cách dễ dàng, chính là thứ được gọi là “phong cách lý giải”.

Theo những gì được nói đến trong bản tóm tắt dưới đây, thì phong cách này không chỉ đi kèm với những cá nhân riêng lẻ, mà là với cả những tập thể lớn. Ví dụ, trong điều kiện mọi thứ đều ngang bằng, thì “phong cách lý giải” sẽ là thứ quyết định sự thành bại của một đội chơi thể thao, đặc biệt là khi đặt họ dưới áp lực. Ngoài ra, bản tóm tắt cũng sẽ đề cập đến lí do tại sao những người lạc quan thường mạnh khỏe hơn những người bi quan. Đồng thời, độc giả cũng sẽ hiểu rằng tại sao việc độc thoại theo cách tiêu cực sẽ dẫn đến sự suy sụp tinh thần. Cuối cùng và cũng là điều quan trọng nhất, người đọc sẽ nhận ra rằng “phong cách lý giải” là thứ chúng ta hoàn toàn có thể học được, và việc thay đổi quan điểm của chúng ta về thế giới theo hướng tích cực hơn là hoàn toàn có thể.

“Kỹ năng để trở nên hạnh phúc thực ra khác hoàn toàn với kỹ năng không buồn bã, lo lắng hay tức giận”

Chương 2. “Phong cách lý giải” của những người bi quan luôn cố định, hướng về nội tâm, điều này trái ngược hoàn toàn với những người lạc quan

Bất cứ khi nào chúng ta gặp phải một sự việc đáng tiếc trong cuộc sống, ta luôn giải thích nó với bản thân theo một trong hai cách: tiêu cực hoặc tích cực.

Nhưng điều gì sẽ thể hiện chính xác nhất “phong cách lý giải” của chúng ta?

Đầu tiên, những người bi quan luôn coi rắc rối là những thứ cố định, trong khi người lạc quan lại cho rằng chúng chỉ xảy ra đôi lúc. Ví dụ, nếu bạn mất đi một khách hàng quan trọng, bạn có thể nghĩ rằng: “Tôi luôn luôn làm mất hầu hết những khách hàng tiềm năng”. Bằng việc sử dụng từ “luôn luôn”, bạn sẽ làm cho sự lý giải đó trở nên cố định: bạn luôn làm mất những khách hàng quan trọng, vậy thì việc cố gắng sẽ không có nghĩa lý gì cả.

Ngược lại, nếu bạn sử dụng “phong cách lý giải” theo chiều tích cực, thì những khó khăn sẽ chỉ đơn thuần là việc thoáng qua. Ví dụ như bạn cố thể nghĩ rằng: “Tôi vừa làm mất một khách hàng quan trọng, nhưng tôi sẽ làm tốt hơn với những người khác”.

Ngoài ra, nếu những người lạc quan luôn cho rằng những rắc rối chỉ đi kèm với một vấn đề nhất định nào đó, thì những người bi quan lại gán chúng cho toàn bộ sự việc. Ví dụ, nếu một học sinh bi quan tin rằng cấp bậc thành tích mà họ nhận được rất phi lý, sau đó họ sẽ nghĩ rằng mọi cấp bậc đều không công bằng như thế. Kết quả là họ sẽ thấy việc nỗ lực học tập cho bài thi tới khó khăn hơn rất nhiều.

Ngược lại, nếu là những người lạc quan, họ sẽ nghĩ rằng: “Có thể vị giảm khảo này không công bằng cho lắm, nhưng có lẽ những người khác sẽ đánh giá bài làm của mình tốt hơn”.

Bên cạnh đó, những người lạc quan có xu hướng nghĩ rằng sự việc tiêu cực gây ra bởi những yếu tố bên ngoài, còn những việc tích cực lại là kết của quả yếu tố trong chính con người chúng ta. Tuy nhiên, những người bi quan lại có cách suy nghĩ ngược lại. Ví dụ, nếu bạn đời rời bỏ bạn, bạn có thể nghĩ rằng: “Anh ấy ra đi vì mình không đủ tốt, hoặc bởi vì mình không cười khi anh ấy pha trò”.

Ngược lại, nếu với bạn nguyên nhân của những sự việc tiêu cực là từ những yếu tố khách quan, thì bạn sẽ nghĩ rằng: “Anh ta chỉ đơn giản là chưa sẵn sàng cho một sự bảo đảm, cam kết, vì vậy thực tế mối quan hệ này chỉ đang lãng phí thời gian của mình”.

May mắn thay, cách mà những người bi quan và lạc quan suy nghĩ về sự việc tiêu cực thì không hề cố định, tất cả những kiểu tư duy đó đó đều có thể thay đổi được.

“Cái mà chúng ta muốn không phải là sự lạc quan mù quáng mà là sự lạc quan một cách linh hoạt. Đôi khi chúng ta phải dùng đến sự nhạy cảm với thực tế của những người bi quan nhưng không để bản thân bị chìm đắm trong bóng tối của đó”

Chương 3. Chủ nghĩa tích cực và tiêu cực đều là những thói quen tư duy, độc thoại, những thứ hoàn toàn có thể thay đổi được

“Phong cách lý giải” của chúng ta bắt nguồn từ những trải nghiệm cá nhân. Nếu dựa trên những trải nghiệm, thì hoặc chúng ta sẽ trở thành những người bi quan, luôn tin rằng không thể điều khiển số mệnh, hoặc sẽ trở thành người lạc quan, tin tưởng rằng định mệnh hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của con người.

Tương tự như vậy, thói quen suy nghĩ của con người cũng là thứ có thể học được, phần lớn là học trong suốt khoảng thời gian thơ ấu từ cha mẹ và giáo viên ở trường học.

Những đứa trẻ luôn bắt chước theo hành động của cha mẹ, vì vậy họ giải thích những sự việc tiêu cực theo cách bi quan, con trẻ cũng rất dễ hình thành “phong cách lý giải” tương tự như vậy.

Giáo viên cũng có ảnh hưởng rất lớn đến trẻ nhỏ. Ví dụ, họ luôn đánh giá thành tích học tập yếu kém của học sinh nam và học sinh nữ theo hai cách hoàn toàn khác nhau. Họ nói với những cậu bé rằng do chúng mải chơi nên thành tích mới kém như vậy, trong khi đó những học sinh nữ lại được bảo rằng đó là do chúng không có năng khiếu với những con số.

Kết quả là, phái nữ dần hình thành “phong cách lý giải” theo hướng nội tâm, nghĩa là họ sẽ đổ lỗi cho chính mình về kết quả mà họ nhận được. Ngược lại, “phong cách lý giải” của phái nam sẽ hướng ra yếu tố bên ngoài nhiều hơn. Lý giải theo hướng nội tâm có xu hướng gây ra trạng thái buồn bã. Vì vậy, đây có thể là một nguyên nhân khiến tỉ lệ vấn đề tâm lý ở nữ giới luôn cao hơn nam giới.

Ngoài ra, những khủng hoảng cuộc sống cũng có một số ảnh hưởng nhất định lên việc học hỏi “phong cách lý giải”. Nếu những đứa trẻ được dạy rằng chúng hoàn toàn có thể vượt qua những khủng hoảng, và rằng những điều tiêu cực chỉ là tạm thời, từ đó lũ trẻ sẽ dần phát triển lối sống lạc quan. Vì vậy, những khủng hoảng trong thời thơ ấu không hẳn sẽ có những ảnh hưởng xấu lên sự phát triển của trẻ. Điều đó phụ thuộc hoàn toàn vào cái cách những người chăm sóc đứa trẻ giải quyết những khủng hoảng đó.

Điều quan trọng nhất chính là, vì “phong cách lý giải” là thứ hoàn toàn có thể học hỏi được, nên chúng ta cũng có thể thay đổi cách ta tự độc thoại với bản thân mình. Thậm chí nếu ở thời thơ ấu bạn có theo lối sống bi quan, điều đó hoàn toàn không có nghĩa rằng bạn sẽ phải theo nó mãi mãi.

Chương 4. Những người lạc quan có hệ miễn dịch tốt hơn, và nhìn chung họ có một sức khỏe tốt hơn

Những lợi ích của việc nhìn nhận tích cực lớn hơn rất nhiều so với những gì chúng ta công nhận. Ví dụ như nếu so với những người bi quan, thì nhìn chung những người lạc quan có sức khỏe tốt hơn. Tại sao lại như vậy?

Đầu tiên, ở mức độ tế bào, những người lạc quan thường có hệ miễn dịch tốt hơn. Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa cảm giác bất lực, bi quan vào những con chuột, từ đó thấy rằng hệ miễn dịch của chúng sản xuất ra ít T-cells, những tế bào đóng vai trò quan trọng trong phản ứng miễn dịch.

Một số những nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng việc thay đổi “phong cách lý giải” loại bỏ đi cảm giác tiêu cực thậm chỉ có thể tăng cường hệ miễn dịch của các bệnh nhân ung thư. Ngoài ra, những người lạc quan thường chủ động hơn những người bi quan, vì vậy họ sẽ chăm sóc cho bản thân mình tốt hơn.

Những người lạc quan tin rằng hành động của họ đang có những ảnh hưởng tích cực, vì vậy họ thường luôn kiên trì theo đuổi chế độ chăm sóc sức khỏe của mình. Trái lại, những người bi quan nghĩ rằng những gì họ làm sẽ chẳng thay đổi được gì cả, vì vậy chẳng có lí do gì để họ phải cố gắng thay đổi phong cách sống của mình, dù cho nó có gây tổn hại đến sức khỏe đi chăng nữa.

Đồng thời, những người lạc quan sẽ ít phải chạm trán với khó khăn hơn những người bi quan. Những nhà nghiên cứu giải thích hiện tượng này là do những kết luận vội vàng của những người tiêu cực rằng họ chẳng thay đổi được bất kì điều gì cả. Vì vậy, những người bi quan sẽ luôn gặp nhiều khó khăn, cơ thể sẽ luôn phải chịu đựng căng thẳng, từ đó dẫn đến rất nhiều bệnh tật.

Bên cạnh đó, những người lạc quan thấy khá dễ dàng trong việc duy trì tình bạn, và tình bạn là yếu tố rất quan trọng với sức khỏe con người. Bởi lẽ việc có một người bạn để tâm sự và thảo luận về mọi thứ cùng thực sự sẽ làm giảm đi đáng kể những căng thẳng từ khó khăn gặp phải hàng ngày.

Vì vậy nếu bạn đang phải trải qua giai đoạn khó khăn, việc tâm sự cùng một người thân thiết sẽ giúp ích rất nhiều. Bởi lẽ họ là những người thấu hiểu chúng ta nhất, vì vậy họ có thể đưa ra một vài gợi ý rất hữu ích giúp ta vượt qua giai đoạn khó khăn đó.

Chương 5. Chủ nghĩa tiêu cực sẽ mang đến rất nhiều phiền muộn

Phương Tây đang chứng kiến một bệnh dịch mang tên “nỗi buồn”: cứ mỗi khoảnh khắc trôi qua, xấp xỉ có 25% dân số đều đang trải qua những nỗi buồn khác nhau. Nhưng đâu là nguyên nhân của tình trạng này?

Những sự việc tiêu cực và yếu tố sinh học chỉ chiếm một phần nguyên nhân. Ví dụ như khi anh chị em ruột của bạn buồn, thì rất có khả năng bạn cũng sẽ buồn theo. Tuy nhiên, những ảnh hưởng về gen này không thực sự tiêu biểu.

Tương tự như vậy, những sự việc tiêu cực không thể là nguyên nhân chính của nỗi buồn. Việc cảm thấy tâm trạng không được tốt khi gặp phải chuyện buồn là điều hoàn toàn bình thường, nhưng không phải ai cũng trở nên cực kì suy sụp khi gặp những trường hợp như vậy. Nhưng nếu cả yếu tố sinh học và những sự việc tiêu cực đều không phải, thì đâu mới là nguyên nhân của nỗi buồn?

Câu trả lời chính là “phong cách lý giải” của chúng ta: cách mà chúng ta nhìn nhận vấn đề sẽ chính là yếu tố lớn nhất quyết định rằng liệu ta có trở nên buồn bã quá mức hay không. Như một nghiên cứu đã chỉ ra rằng, “tâm lý bất lực do huấn luyện” có thể xuất hiện khi con người được giao một nhiệm vụ bất khả thi cho dù họ có làm gì đi chăng nữa.

Trong nghiên cứu về con người, các chủ thể được đưa vào căn phòng cùng một tấm pano với một vài nút ấn. Sau đó căn phòng sẽ trở nên vô cùng ồn ào, nhiệm vụ của các chủ thể là chấm dứt những tiếng ồn đó bằng cách ấn nút trên pano. Tuy nhiên, thực tế là họ có ấn nút nào đi chăng nữa cũng không thể chấm dứt được tiếng ồn. Kết quả là gì?

Một số chủ thể nhất định sẽ “học cách” cảm thấy bất lực trong trường hợp như vậy, sau trải nghiệm đó họ đã bắt đầu có những biểu hiện của sự phiền muộn, chán nản.

Nghiên cứu này đã ủng hộ cho hình mẫu nỗi buồn đặc trưng của Seligman mà theo cách nói của ông ấy, chính là niềm tin rằng mọi cố gắng của ta sẽ vô ích. Vì vậy, sự mất mát, thất bại chỉ có thể đem đến phiền muộn nếu chúng ta tin rằng mình chẳng thể làm gì để thay đổi chúng.

Chương 6. Trong những trận đấu thể thao, bạn có khả năng thắng cao hơn nhiều nếu như bạn tư duy theo lối tích cực

Như chúng ta đã thấy, phong cách lý giải tích cực hay tiêu cực đều có những ảnh hưởng vô cùng lớn lên thành tích của chúng ta. Điều đó đặc biệt đúng trong những trận đấu thể thao. Trong hai đội cân bằng về mọi khía cạnh, thì đội nào lạc quan hơn sẽ giành chiến thắng, đặc biệt nếu họ đã trải qua thất bại trước đó.

Trong một nghiên cứu của Seligman và đồng nghiệp, họ đã đánh giá mức độ lạc quan của những đội bóng chày qua hai mùa giải. Và nếu xét về khía cạnh tài năng của các thành viên, thì các đội hoàn toàn ngang bằng nhau.

Một đội chơi cực kỳ lạc quan đã giải thích thất bại của họ như sau: “Chúng tôi đã thua đội bạn, nhưng sẽ chỉ thua một lần thôi, và đó không thực sự hoàn toàn là lỗi của chúng tôi”. Nghiên cứu đã nhận ra rằng, vào mùa giải đầu tiên năm  1985, New York Mets là đội có phong cách lạc quan nhất trong tất cả các đội. Ngược lại, St. Louis Cardinals lại có cách giải thích cho thất bại của họ vô cùng tiêu cực. Dựa trên nền tảng đó, Seligman và đồng nghiệp đã dự đoán rằng Mets sẽ có một mùa giải thành công hơn vào năm 1986, và Cardinals sẽ phải nếp trải thất bại. Và cuối cùng, những gì được tiên đoán là hoàn toàn chính xác.

Chương 7. Những người lạc quan sẽ dễ có được thành công hơn; tài năng sẽ chỉ là thứ được phóng đại lên nếu nó không đi kèm với một tư duy lạc quan

Thậm chí nếu bạn không phải là một vận động viên thể thao tài năng, thì với phong cách lý giải theo hướng lạc quan, bạn sẽ dễ dàng vượt qua những thử thách trong cuộc sống.

Sự lạc quan thậm chí có thể thấy ở cả những đứa trẻ, những học sinh lạc quan thường học tập tốt hơn những học sinh có lối tư duy tiêu cực.

Trong một nghiên cứu, hai nhóm học sinh – một bên là bi quan, một bên là lạc quan – được giao cho các bài toán có thể giải được. Trong lần đầu tiên, cả hai đội đều đã làm tốt như nhau. Trong lần thứ hai, chúng lại được giao cho những bài toán không thể giải quyết được.

Kết quả là, nhóm bi quan nhanh chóng từ bỏ, và đồng thời từ chối việc tiếp tục nhiệm vụ. Ngược lại, nhóm học sinh lạc quan lại nhận ra rằng họ đang mắc lỗi sai và tiếp tục cố gắng giải quyết bài toán theo những chiến thuật riêng.

Cuối cùng, trong lần thứ ba, hai đội lại được giao cho một bài toán nằm trong khả năng của họ, và sau đó được yêu cầu đánh giá mức độ thành công nếu họ phải giải quyết những bài toán tương tự trong tương lai. Nhóm học sinh bi quan trả lời rằng họ sẽ chỉ giải quyết được khoảng 50%, trong khi con số ấy ở nhóm lạc quan lên đến 90%.

Kết quả tương tự cũng được minh chứng khi học lớn lên, những sinh viên lạc quan sẽ có kết quả học tập ở trường đại học tốt hơn những gì mà họ thể hiện ở bài thi SAT. Một nghiên cứu ở trường đại học Pennsylvania đã chỉ ra rằng: phòng tuyển dụng thường chọn những học sinh dựa trên học bạ trung học, điểm SAT và kết quả của bài thi đánh giá năng lực. Những yếu tố trên được tính toán thành một chỉ số, và nếu chỉ số ấy đủ cao, thì học sinh sẽ được nhận vào trường đại học. Nhưng có một vấn đề với hệ thống này: có một bộ phận sinh viên lại không giỏi như mong đợi, trong khi số khác lại thể hiện tốt hơn rất nhiều.

Để tìm ra nguyên nhân, Seligman đã đánh giá mức độ lạc quan của sinh viên năm nhất và đợi xem kết quả học tập của họ ở kì học đầu tiên. Và như chúng ta đoán được, những sinh viên lạc quan có kết quả cao hơn dự đoán, và hoàn toàn ngược lại với những sinh viên bi quan.

Chương 8. Lối tư duy lạc quan cũng rất hữu ích trong công việc

Tại sao có một số người dường như có được thành công trong mọi công việc họ làm, trong khi đó số khác lại chỉ luôn lẹt đẹt theo sau? Sự khác nhau giữa hai nhóm người trên, một lần nữa lại chính là “phong cách lý giải”.

Những người lạc quan thường phù hợp với những công việc có sự đào thải rất khốc liệt. Điều này đặc biệt đúng trong nghề kinh doanh, một nghề chủ yếu làm việc trên điện thoại với khách hàng. Trong đó, việc có một phong cách lạc quan sẽ quyết định xem bạn thành công hay thất bại.

Ví dụ, quá trình tuyển dụng của công ti bảo hiểm Metropolitan – một công ti tuyển dụng đến 5000 nhân viên mới mỗi năm – lại vô cùng khắc nghiệt, bởi lẽ họ phải chi đến hơn 30.000$ cho việc chọn lựa và đào tạo nhân viên mới. Tuy nhiên, sau bốn năm, có đến 80% trong số họ sẽ bị đào thải.

Một đặc thù quan trọng của nghề bán hàng chính là việc tiếp cận những khách hàng tiềm năng bằng điện thoại, công việc việc mà kết quả nhận được thường là lời từ chối. Chỉ những nhân viên vẫn kiên trì tìm kiếm mười khách hàng tiềm năng một ngày, cho dù họ có bị từ chối nhiều thế nào đi chăng nữa, mới có thể thành công.

Bên cạnh quy trình tuyển dụng phổ biến, Seligman cũng đánh giá mức độ lạc quan của những nhân viên kinh doanh tương lai. Ông tuyển chọn những người có kết quả đánh giá năng lực thấp hơn mức sàn một chút, nhưng chỉ số lạc quan lại rất cao. Theo sự giám sát của Seligman, ông nhận thấy rằng những nhân viên có chỉ số lạc quan cao làm việc hiệu quả hơn những người được tuyển vào đơn thuần dựa trên kĩ năng của họ.

Theo những gì nghiên cứu của Seligman đã chứng minh, chỉ dựa vào năng khiếu và kiến thức thì không đủ để dự đoán trước được sự thành công trong công việc của một người, đặc biệt là những lĩnh vực phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thất bại. Vì vậy, tác giả đưa ra gợi ý rằng hãy lựa chọn nhân lực dựa trên ba yếu tố: động lực, năng khiếu, và đương nhiên, có cả sự lạc quan.

“Trong khi bạn không thể kiểm soát những trải nghiệm, thì bạn hoàn toàn có thể kiểm soát cách lý giải của mình về chúng”

Chương 9. Bạn có thể thay đổi cách độc thoại với bản thân thông qua việc sử dụng phương pháp ABC

Nếu bạn đã hiểu được những ảnh hưởng tiêu cực to lớn mà phong cách lý giải theo hướng bi quan gây ra, bạn có thể sẽ thắc mắc: “Làm thế nào để có thể thay đổi mình từ một người bi quan thành một người lạc quan?”

Một trong những cách hữu dụng nhất để giải quyết vấn đề này chính là sử dụng phương pháp ABC, một kỹ thuật được phát triển bởi nhà tâm lý học Albert Ellis. Kỹ thuật này gồm ba bước: Bất hạnh (adversity), niềm tin (belief) và hệ quả (consequence).

Đầu tiên, hãy lắng nghe chính bản thân mình để có thể nhận ra mối liên kết giữa bất hạnh, niềm tin và hệ quả trong cuộc sống.

Hãy cùng xét một ví dụ đơn giản sau:

Bất hạnh: Người bạn yêu không trả lời điện thoại của bạn.

Niềm tin: Anh ấy (hoặc cô ấy) không thích mình. Mình xấu xí và không có khiếu hài hước.

Hệ quả: Bạn sẽ buồn phiền suốt cả ngày.

Tuy nhiên, cũng giống như việc hầu hết các cuộc độc thoại của chúng ta thường không rõ ràng, việc nhận ra “ABC” trong cuộc sống không phải lúc nào cũng đơn giản như vậy. Tuy nhiên, hãy thử cố gắng lắng nghe bản thân mình và tìm ra ít nhất là 5 yếu tố “ABC”, từ đó bạn mới có thể nhận ra những ảnh hưởng tiêu cực của chúng lên cuộc sống.

Để làm được điều đó, hãy cố gắng ghi lại ba yếu tố A, B và C trong khi bạn suy xét cuộc độc thoại đầy tiêu cực của mình.

Bất hạnh (A) có thể là bất cứ thử thách gì trong cuộc sống: một cuộc tranh cãi với bạn bè, nhận một giấy phạt chạy quá tốc độ, hay quên mua đồ tạp hóa trên đường đi làm về.

Niềm tin (B) thể hiện cách mà bạn lý giải những vấn đề như thế. Tuy nhiên, việc phân biệt giữa suy nghĩ và cảm xúc rất quan trọng (cảm xúc chính là những hệ quả). Ví dụ như, niềm tin có thể là: Tôi là một ông bố tồi, tôi bất tài; tôi đã làm không tốt; mọi ký ức của tôi đều thật tồi tệ.

Khi đề cập đến hệ quả (C), bạn nên nghĩ đến những gì bạn làm như là kết quả của A và B và những gì bạn cảm nhận về nó. Ví dụ như, bạn có khóc không? Trông bạn có đáng thương không? Bạn có la hét và mất kiểm soát không? Bạn có xấu hổ không?

Một khi bạn đã tìm thấy một vài bộ ABC trong cuộc sống, bạn sẽ có thể thay đổi chúng. Hãy nhớ rằng, niềm tin sẽ chính là thứ xác định hệ quả mà bạn nhận được.

Chương 10. Hãy cố gắng để nhận ra mối liên kết giữa A, B và C, từ đó có sự thay đổi phù hợp

Hệ quả của những sự việc xảy ra và cách chúng ta cảm nhận về chúng hoàn toàn được xác định bởi niềm tin của chính bản thân mình về những sự việc ấy. Vì vậy, bằng các thay đổi niềm tin, ta cũng có thể thay đổi hệ quả và những cảm xúc sau đó.

Việc xác định xem liệu rằng niềm tin của bản thân có đúng hay không hoàn toàn không phải là điều dễ dàng. Tuy nhiên, rõ ràng rằng những gì mà sự việc tiêu cực tác động đến chúng ta chịu ảnh hưởng rất lớn từ cách mà ta suy nghĩ về chúng.

Ví dụ, hãy tưởng tượng xem khi bạn cố gọi đi gọi lại cho một vị khách hàng mà người ấy không nhấc máy. Nếu bạn tin rằng có lẽ người đó đang rất bận nên không thể trả lời, bạn sẽ để lại một tin nhắn và tiếp tục thử gọi lại vào hôm sau. Tuy nhiên, với một niềm tin khác, kết quả đem lại cũng rất khác nhau. Ví dụ, nếu gọi đến lần thứ 5 vẫn không được, bạn tin rằng vị khách đang lờ cuộc gọi vì họ không muốn làm việc với bạn. Kết quả là bạn sẽ cảm thấy cực kì vô dụng và thất bại, sau đó nhanh chóng bỏ cuộc.

Những tình huống như vậy xảy ra rất nhiều trong cuộc sống, và nó thậm chí còn ảnh hưởng đến cách mà lũ trẻ của bạn nhìn nhận và xử sự trong các trường hợp tương tự. Nhưng bằng việc bàn luận về những yếu tố A,B,C cùng với lũ trẻ và giúp chúng xây dựng những niềm tin khác đi, bạn thực sự có thể giúp chúng có một cuộc sống hạnh phúc hơn.

Ta hãy cùng thử xem xét về yếu tố ABC trong hai trường hợp sau:

Bạn thân của con bạn quyết định ngồi ăn trưa cùng một người bạn khác. Con bạn tin rằng người bạn kia vì không thích chơi với nó nữa nên đang cố đi tìm kiếm bạn mới. Kết quả là đứa bé sẽ buồn bã, cảm thấy như bị ghét bỏ. Và vì luôn bận tâm về vấn đề ấy mà chúng không thể tập trung học hành được nữa.

Còn bây giờ hãy thử xem xét một phản ứng khác: Con bạn tin rằng việc bạn đó muốn trở nên hòa đồng và đi kết bạn với nhiều người là rất tốt. Và nó quyết định sẽ tham gia vào hội bạn đó và bắt đầu tự giới thiệu bản thân mình. Kết quả là đứa trẻ trở nên tự tin về bản thân mình, và thậm chí còn kết thêm được nhiều bạn mới nữa.

“Việc cố cải thiện những điều tiêu cực sẽ không tạo ra những thứ tích cực”

Chương 11. Bạn có thể trở thành một người lạc quan bằng cách chất vấn và phân tích niềm tin của bản thân mình

Như chúng ta đã thấy, những người lạc quan nhìn nhận những sự việc tiêu cực như là những điều khá cụ thể, nhất thời và bị gây ra bởi những yếu tố bên ngoài. Đó có phải là cách bạn phản ứng lại với những trường hợp tương tự như vậy không? Nếu câu trả lời là không thì đừng lo, vì có một số cách để bạn có thể bắt đầu thay đổi niềm tin của mình.

Cách đầu tiên chính là “tranh luận”, nó có tác động sâu sắc nhất để bạn có thể thay đổi quan điểm tiêu cực của mình. Tranh cãi với niềm tin của bản thân bao gồm việc thử kiểm tra niềm tin theo bốn câu hỏi sau:

Niềm tin đó có thực sự chính xác không? Nếu có, thì đâu là bằng chứng? Ví dụ như, nếu một vị khách không mua hàng của bạn, thì đó liệu có phải là do bạn bán hàng kém hay không? Nếu bạn trả lời là có, thì bạn sẽ giải thích sao về những thành tích bán hàng ấn tượng mà bạn đã tạo nên trong tuần vừa rồi?

Có một sự giải thích nào khác không? Bạn nên tập trung vào những nguyên nhân cụ thể, linh hoạt và khách quan. Ví dụ như, nếu đồng nghiệp đột nhiên ngừng nói chuyện khi bạn đến văn phòng, liệu rằng có phải là do họ đang nói xấu sau lưng bạn? Hay có thể là do họ đang nói về một thứ hoàn toàn khác.

Những hậu quả mà niềm tin của bạn gây ra là gì? Những hậu quả ấy có xảy ra không? Và liệu chúng có tồi tệ đến vậy?

Cuối cùng, hãy tự hỏi bản thân mình rằng: Những gì mình đang nghĩ có hữu ích cho bản thân không? Nếu một suy nghĩ không có ích, bạn có thể bỏ qua chúng và tập trung vào việc làm thế nào để thay đổi tình huống trong lần tới.

Một khi bạn đã luyện tập phương pháp tranh cãi với niềm tin của bạn thân, bạn có chuyển sang cách hai: ngoại hiện giọng nói của mình.

Với phương pháp này, bạn cần nhờ một người bạn thân thiết tập luyện cùng và công kích bạn một cách tàn nhẫn như bạn làm, sau đó hãy sử dụng tất cả những niềm tin tiêu cực của mình. Nhiệm vụ của bạn là bảo vệ bản thân khỏi những công kích đó bằng cách phát âm sự bảo vệ đó ra ngoài. Bạn cũng có thể luyện tập phương pháp này với con cháu mình. Tuy nhiên, hãy chắc chắn rằng chúng thực sự có thể công kích bạn đủ độ.

Bằng việc luyện tập những phương pháp này thường xuyên, bạn sẽ dần dần thay thế niềm tin tiêu cực của mình bằng những điều tích cực hơn, và từ đó trở thành một con người hoàn toàn lạc quan.

Kết luận

Về cả thể chất và tinh thần, những người lạc quan đều khỏe mạnh hơn những người bi quan, vì vậy những người hạnh phúc và thành công đều là những người tích cực. Cả những người lạc quan và bi quan đều được học cách để để phản ứng lại với những thử thách tiêu cực trong cuộc sống. Do vậy, có rất nhiều cách để ta có thể trở thành một người lạc quan.

Việc phát triển lối tư duy tích cực góp phần rất lớn đưa sức khỏe, tiền bạc và hạnh phúc đến với con người

Sách cùng chủ đề

Feeling Good, David D.Burns

Flow, Mihaly Csikszentmihalyi

Emotional Intelligence, Daniel Goleman