Xê Dịch

On the move, Oliver Slack

Xê dịch tiết lộ tiểu sử của nhà thần kinh học nổi tiếng Oliver Sacks. Một cách tỉ mỉ, Sacks thuật lại niềm đam mê không điểm dừng đối với cuộc sống và sự nghiệp, điều đã thúc đẩy ông tìm kiếm tình thương và lòng nhân đạo trong thế giới khoa học. Sacks chưa bao giờ do dự trong công cuộc đi tìm đáp án cho câu hỏi điều gì khiến trí tuệ con người kì diệu đến vậy. 

Cuốn sách thực sự rất đáng đọc với những ai hứng thú nghiên cứu về thần kinh học hoặc muốn tìm hiểu về những nhân vật truyền cảm hứng trong lịch sử nhân loại, dù là trong lĩnh vực khoa học hay nghệ thuật. 

Tác giả

Là nhà thần kinh học và cũng là nhà văn Oliver Sacks từng được gọi là “thi sĩ về y học” bởi tạp chí New York Times. Ông cũng từng là sĩ quan chỉ huy của Anh quốc năm 2008. Một vài tác phẩm nổi bật khác của ông là Musicophilia (tác phẩm viết về âm nhạc và trí não con người) và Awakenings (Tạm dịch: Thức tỉnh).

Hãy phiêu cùng với một bộ óc khoa học không biết ngừng nghỉ! 

Oliver Sacks yêu những chiếc mô-tô. Khi ông chỉ mới mười tuổi, Sacks chỉ ngồi bên cửa sổ và ngắm nhìn những chiếc mô-tô lướt qua. Đối với ông, xe mô-tô là biểu hiện của tự do. 

Vào năm 18 tuổi, ông có được chiếc xe đầu tiên, đó là một chiếc BSA Bantam cũ. Và 30 năm sau, ông tận hưởng tự do khi du ngoạn trên những con đường lớn ở Anh và Bắc Mỹ. Nhưng tình yêu với việc lái mô-tô này không phải là điều khiến Oliver Sacks trở thành một người có ảnh hưởng lớn.

Sacks là một trong những nhà văn viết về khoa học và bác sĩ tiên phong trong thế kỉ hai mươi, một người đàn ông với khả năng kì lạ khi có thể chứng kiến và thuật lại những khía cạnh đáng kinh ngạc của con người trong rất nhiều bệnh nhân mà ông chữa trị.

Ông chuyên về chữa trị những người có vấn đề về thần kinh, từ chứng mất ngủ tới tự kỉ hay chứng đau nửa đầu. Trong cuốn sách này, bạn sẽ đi cùng Sacks ngược về hành trình cuộc đời của ông và khám phá xem điều gì khiến người đàn ông tài năng này để lại dấu ấn mạnh mẽ như thế. 

Niềm đam mê từ rất sớm với khoa học đã thúc đẩy Sacks nghiên cứu y học và phát triển sự nhạy cảm với nhu cầu của bệnh nhân.

Oliver Sacks được sinh ra trong một gia đình bác sĩ. Bố của ông là một thầy thuốc nổi tiếng cho đến tận hơn 90 tuổi; mẹ ông là một trong những bác sĩ phẫu thuật nữ đầu tiên ở Anh. 

Từ khi còn nhỏ Oliver đã nhận thức được rằng ông muốn đi theo con đường của bố mẹ và trở thành một bác sĩ. 

Và thật may mắn là ông lớn lên với tình yêu dành cho khoa học. Khi còn là một đứa bé, ông đã dành nhiều giờ liền trong phòng chơi với dụng cụ hóa học. Ông cũng yêu thích sinh vật học, động vật học và thực vật học. 

Lớn lên một chút, ông thường tự hỏi bản thân: Nhưng mình nên trở thành một bác sĩ như thế nào? Và hóa ra điều thu hút Oliver nhất chính là trí não con người. 

Ở tuổi vị thành niên, ông bắt đầu chịu đựng những cơn đau nửa đầu, có những giai đoạn quá đau đớn đến nỗi ông nhìn thấy ánh sáng lóe lên và bị mất khả năng nhìn. Những quan niệm thay đổi này đã kích thích ông và ông nhận ra mình muốn biết nhiều hơn nữa về cách trí não hoạt động. 

Khi ông nhận được một học bổng để tới Đại học Oxford, ông đã đăng kí một khóa học “pre-med” (Chương trình học dành cho những sinh viên chưa tốt nghiệp tại Mỹ và Canada muốn theo đuổi ngành y). Khi sự nghiệp y khoa nghiêm túc của Oliver bắt đầu, ông nhanh chóng học được những bài học giá trị về nhu cầu tinh thần và cả thể chất của người bệnh.

Oliver trở thành một bác sĩ khoa sản và tiếp tục việc học của mình. Bởi vì rất nhiều phụ nữ nước Anh vẫn sinh con tại nhà vào thời điểm đó, Oliver thường đến khám tại nhà cùng với vợ và giúp đỡ họ. Đó là một công việc kì diệu và đầy hứng khởi, và Oliver nhận ra rằng ông có một khả năng thiên bẩm giúp bệnh nhân trong những tình huống căng thẳng.

Vào ngày 13 tháng 12 năm 1958, Oliver trở thành một bác sĩ chính thức. Ông tiếp tục được đào tạo tại bệnh viện Middlesex nơi ông dành cả năm làm việc với khoa nội và khoa thần kinh. 

Ông nhận ra ngay từ đầu rằng sự cân bằng giữa trị liệu tâm lí và thể chất là cần thiết để bệnh nhân được chăm sóc tốt nhất có thể. Nhận thức này khiến ông trở thành một trong những nhà thần kinh học hàng đầu trên thế giới. 

Từ lúc còn trẻ, Oliver đã gặp khó khăn trong tình yêu, và xe mô-tô cho ông cảm giác tự do.

Tuy Oliver thành công về mặt chuyên môn song đời sống cá nhân của ông lại có vẻ không như mong đợi. Rắc rối bắt đầu sau khi một tai nạn xảy ra vào thời điểm ông sắp rời trường đại học.

Vào năm 1951, Oliver mười tám tuổi là một người đồng tính trong mắt bố mẹ. Trước khi chuyển đến Oxford, bố ông hỏi ông thích con trai hay con gái. Và ông đã nói sự thật rằng ông thích con trai hơn. Bố ông vượt qua tin dữ này khá nhanh chóng nhưng Oliver lại lo lắng về phản ứng của mẹ. Và sự thực là bà không thể chấp nhận nổi nó. Bà khiến con mình tổn thương bằng việc gọi ông là “đồ kinh tởm”.

Oliver đã cố gắng giữ mối quan hệ tốt với mẹ ông trong suốt cuộc đời mình, mặc dù họ không bao giờ nhắc lại chuyện đó một lần nữa. Những lời lẽ của mẹ ông ám ảnh ông suốt một thời gian dài, khiến ông thu mình lại và thường phòng vệ khi nói về giới tính của mình. 

Khi trở thành sinh viên của trường Oxford vào năm 1953, lần đầu tiên Oliver đã có cảm tình với một người. Đó là Richard Selig, một nhà thơ người Mỹ và là một học giả với tình yêu cuộc sống mãnh liệt. Oliver đã say đắm Selig và ông cuối cùng đã lấy hết dũng khí để nói với Rechard lời yêu. Selig rất thấu hiểu, nhưng buộc phải lịch sự từ chối lời tỏ tình của Oliver, mặc dù ông yêu quý Oliver như một người bạn, nhưng ông không có thứ tình cảm mà Oliver mong muốn. 

Một vài năm sau vào năm 1957, Richard Selig qua đời vì bệnh Hodgkin (Bệnh Hodgkin còn được gọi là u lymphô Hodgkin, là một dạng u lymphô ác tính, một bệnh ung thư hệ bạch huyết, một phần của hệ miễn dịch.)

Trước khi ông rời Anh năm 1959, Oliver lại có mối tình chóng vánh với một người đàn ông tên là Bud, một người nghiện xe mô-tô như Oliver. Hai người rất gắn bó với nhau và dành những cuối tuần vòng quanh miền quê nước Anh.

Tuy nhiên, thời điểm Oliver phải đi thực hiện nghĩa vụ quân đội ở Canada cũng đến, hai người buộc phải chia tay nhau trong đau khổ.

Ở Mỹ, Sacks bắt đầu sự nghiệp y khoa đồng thời nuôi dưỡng tâm hồn của mình với những chuyến đi.

Năm 1959, ở Anh nghĩa vụ quân sự vẫn là bắt buộc. Vậy nên Oliver quyết định đầu quân vào Khối thịnh vượng chung của Canada và lực lượng Không quân Hoàng gia Canada. 

Đối với những người trong lĩnh vực y khoa, Bắc Mỹ là nơi mang đến những cơ hội nghề nghiệp mà nước Anh đông đúc và đầy cạnh tranh không thể có được. Dù vậy, Oliver khát khao tự bước ra ngoài và khám phá thế giới.

Nhưng trong sự ngỡ ngàng của Oliver, ngay khi ông đến, lực lượng không quân Canada đã buộc ông rời đi ngay lập tức.

Sau khi được đánh giá, Oliver được yêu cầu dành ra ba tháng và xem xét lại động lực để tham gia quân đội. Ông đồng ý và không bao giờ ngoảnh lại. Oliver đã ở Bắc Mỹ với một cơ hội làm điều mà ông luôn hằng mong ước: đi du lịch. 

Ông đi dọc đất nước Canada, đặc biệt thích thú với những hòn đá ở đất nước này. Khi ông tới Columbia và biển Thái Bình Dương, ông di chuyển theo hướng Nam tới California, và cuối cùng dừng chân ở San Fransisco. 

Oliver biết là ông cần quay trở lại với công việc, vì thế ông bắt đầu thực tập ở bệnh viện Mount Zion ở San Fransisco. Ông cũng mua một chiếc mô-tô mới để có thể đi và khám phá những vùng đất quanh đó như công viên quốc gia Yosemite hay những khu rừng gỗ đỏ uy nghi.

Năm 1962, Oliver đã lấy được visa và vượt qua những kì thi về y khoa để trở thành một bác sĩ chính thức ở Mỹ. Ông ăn mừng điều này bằng những chuyến đi.

Oliver trở lại với chiếc mô-tô của mình và bắt đầu một hành trình đầy tham vọng dài 800 dặm trong vòng 50 ngày. Ông lái xe từ San Francisco qua Mỹ tới Boston và lại trở về nhà. 

Ông viết liên tục trên đường đi và gửi những bức thư hài hước chi tiết cho bạn bè và gia đình, miêu tả những điều muôn màu vạn trạng ông gặp trong chuyến đi. 

Oliver cũng gửi những bức thư cho Thom Gunn, môt nhà thơ mà ông đã kết bạn ở San Francisco, người có những tác phẩm mang cùng cảm xúc xê dịch với ông. 

Khi ông trở về California vào tháng 8 năm 1962, Oliver bắt đầu ổn định cuộc sống tại trường Đại học California ở Los Angeles (UCLA).

Những năm 60, Sacks thành công với cả cuộc cách mạng về thuốc ở California và sự nghiệp về thần kinh học.

Oliver tận hưởng cuộc đời ở Bắc Mỹ vào những năm 1960. Trong suốt thời gian này, ông sống với trạng thái ông gọi là “dual persona” (Tạm dịch: đa nhân cách). Ông làm việc tại khoa thần kinh của trường Đại học California vào các ngày trong tuần và dành cuối tuần trên chiếc xe mô-tô của mình khám phá miền Tây Bắc nước Mỹ. 

Ông được giới thiệu về thuốc bằng việc trở thành khách hàng thường xuyên của Muscle Beach, một trung tâm cử tạ của Santa Monicapier. Có lẽ để từ bỏ sự nhút nhát của mình, Oliver đã luyện tập nâng tạ điên cuồng, thậm chí còn đạt kỉ lục ở California khi squat kết hợp nâng tạ 600 pound.

Oliver đã có niềm đam mê thiên bẩm với ảnh hưởng của thuốc tới thần kinh. Bạn bè của ông ở Muscle Beach khuyến khích ông thử Artane, một loại thuốc dùng để chữa bệnh rối loạn thoái hóa. 

Vì bạn bè giới thiệu, Oliver đã dùng 20 vỉ Artane và trải qua chứng ảo giác. Ông sớm bắt đầu thử nghiệm với LSD và marijuana (một dạng ma túy), và sau đó là thời kì kéo dài bốn năm thí nghiệm thuốc chứa chất kích thích.

Oliver ngày càng thu mình lại. Việc dùng thuốc của ông ngày càng tăng lên sau khi một người bạn mới từ chối những nỗ lực bắt đầu một quan hệ mới của ông. Tuy nhiên ông vẫn xuất hiện đúng giờ mỗi ngày để làm việc một cách đáng kinh ngạc.

Oliver nghĩ rằng chính sức mạnh của tuổi trẻ đã giữ cho ông tiếp tục.

Thời điểm đó, ông cũng đang chuẩn bị một bài diễn thuyết cho học viện Thần kinh học của Mỹ về axonal dystrophy (loạn dưỡng tế bào thần kinh trục), một chứng bệnh thoái hóa do sự phồng tế bào thần kinh có thể gây ra sự dịch chuyển các cơ không thể kiểm soát được. 

Buổi diễn thuyết được đón nhận nồng nhiệt và đánh dấu sự nổi tiếng của Oliver trong hội đồng thần kinh học ở Mỹ. Ngay lập tức ông nhận được hàng ngàn cơ hội về nghề nghiệp và quyết định lựa chọn Đại học Y Einstein ở thành phố New York. Ngôi trường mang đến một bước tiến cho ngành thần kinh học mà Oliver ngưỡng mộ. 

Oliver hiểu sâu sắc rằng cuộc sống dễ dàng với thuốc ở miền Nam Califonia đang bắt đầu ảnh hưởng ông. Ông nghĩ rằng một sự thay đổi nơi ở sẽ làm sáng tỏ mọi thứ. 

Tới New York, Sacks vật lộn với việc từ bỏ thói quen dùng thuốc và viết cuốn sách đầu tiên.

Vào tháng 11 năm 1965, Sacks di chuyển từ những con đường ở California tới những con đường bận rộn ở thành phố New York. 

Tại trường Đại học Y Einstein, ông chấp nhận một học bổng để nghiên cứu thần kinh học, lĩnh vực liên quan đến hóa học và bệnh về trí não.

Tuy nhiên khi Oliver ổn định với công việc mới, ông nhận ra rằng ông cần từ bỏ việc dùng thuốc. Vào thời điểm đó, Oliver vẫn dùng rất nhiều chất kích thích. Ông ghi chép lại cách mà thuốc bắt đầu thay đổi nhận thức của ông bằng việc kích thích các cảm giác và tăng trí nhớ của ông.

Nhưng những loại thuốc đó cũng khiến sức khỏe ông giảm sút nhiều phần. Ông tụt 80 pound trong vòng ba tháng, nghỉ làm nhiều ngày và thường xuyên ốm.

Thêm vào đó, Oliver nhận ra ông phù hợp với công việc ở phòng bệnh hơn là những công việc tỉ mỉ ở phòng thí nghiệm. Khi ở phòng thí nghiệm, Oliver đánh mất cả sổ ghi chép và tất cả những mẫu thử mà ông đang dùng, phá hoại mất mấy tháng trời nghiên cứu!

Các đồng nghiệp của ông khuyên ông nên từ bỏ phòng thí nghiệm và cống hiến tài năng của mình cho phòng khám và gặp gỡ bệnh nhân. Oliver rất vui vẻ đồng ý. Thực sự thì ông biết ông buộc phải tìm thấy sự thỏa mãn trong công việc nếu không ông sẽ tiếp tục nhờ đến thuốc.

Năm 1966, ông bắt đầu gặp bệnh nhân ở một phòng khám đau đầu ở Bronx, cùng lúc đó ông cuối cùng cũng từ bỏ được thói quen dùng thuốc của mình. 

Phòng khám phù hợp một cách hoàn hảo. Vì đã chịu đựng những cơn đau nửa đầu từ thời  thiếu niên, Oliver ngay lập tức bắt đầu nghiên cứu cuộc đời những bệnh nhân chịu đựng những triệu chứng đau nửa đầu. 

Ông tin rằng chứng đau nửa đầu không chỉ là cơn đau đầu thông thường, còn có thể liên hệ với những căn bệnh khác về thể chất hoặc thậm chí là trạng thái tâm lí mà bệnh nhân đang trải qua. Tuy nhiên, ý kiến này lại đối lập với những bác sĩ khác ở phòng khám. 

Giữa năm 1967, Oliver tin rằng ông có đủ nghiên cứu và tài liệu để viết một cuốn sách từ những ý tưởng của mình về chứng đau nửa đầu, và ông đưa bản thảo cho giám đốc phòng khám. 

Giám đốc nói với ông rằng cuốn sách là “đồ rác rưởi”, và ông sẽ bị đuổi nếu cho xuất bản nó!

“Việc viết lách khi thuận lợi sẽ mang đến cho tôi niềm vui, sự thỏa mãn, không giống như bất kì điều gì khác. Nó mang tôi đến một thế giới khác.”

Sacks có được dự án nghiên cứu lớn đầu tiên với bệnh nhân “buồn ngủ” ở bệnh viện Beth Abraham.

Mặc dù ông lo lắng bị mất việc và thậm chí bị liệt vào danh sách đen trong cộng đồng y khoa thành phố New York, Oliver đã quyết định tiến hành ý tưởng về cuốn sách của ông.

Tháng 9 năm 1967, ông thành lập một nhà xuất bản cho cuốn sách đầu tiên của mình Migrains (Tạm dịch: Chứng đau nửa đầu). Cùng thời điểm đó, Oliver cũng thành lập một nhóm bệnh nhân, những người đã thay đổi cuộc đời ông mãi mãi.

Ông rất háo hức tiếp tục những nghiên cứu về bệnh nhân trong phòng khám và ông tạo ra một chủ đề đáng kinh ngạc để nghiên cứu ở bệnh viện Beth Abraham.

Những năm 1960, bệnh viện tiếp nhận 80 bệnh nhân mắc bệnh encaphalitis lethargica (Bệnh viêm não rối loạn hôn mê), hay “chứng buồn ngủ”. Đây là một loại bệnh thoái hóa đã giết chết rất nhiều người những năm 20 và 30. Đáng chú ý là tất cả những bệnh nhân sống sót được vẫn ở trong tình trạng rối loạn tâm lí trong khoảng 30 đến 40 năm.

Đến năm 1960, căn bệnh này gần như đã trở thành một chú thích bị quên lãng trong lịch sử y học.

Đến năm 1969, Oliver đã quyết định sử dụng phương pháp điều trị thử nghiệm trên những bệnh nhân này. Ông sử dụng một liều lượng cao loại thuốc có tên là L-Dopa để đưa bệnh nhân ra khỏi trạng thái rối loạn tâm lí. Vào thời điểm đó L-Dopa được tìm ra để điều trị cho những bệnh nhân mắc bệnh thoái hóa hệ thần kinh bằng việc kích thích sản xuất dopamine, một chất dẫn truyền thần kinh. Oliver hy vọng rằng điều tương tự sẽ xảy ra với những bệnh nhân “buồn ngủ” của mình.

Kết quả rất đáng kinh ngạc. Sau đợt chữa trị, các bệnh nhân đều “tỉnh giấc” mà không nhận thức được mấy thập kỉ đã trôi qua. Một vài người trải qua “hiệu ứng yo-yo”, phản ứng của họ với thuốc thay đổi thất thường. 

Một lần nữa, Oliver thấy được sự cần thiết của cả liệu pháp tâm thần và thuốc men để giúp người bệnh đối mặt với những khó khăn về tinh thần và thể chất của mình. Ông viết rất sâu về những phát hiện của mình, sử dụng cả hình ảnh và bản ghi âm để ghi lại rất nhiều hành vi và phản ứng của bệnh nhân.

Năm 1972, Oliver xuất bản một cuốn sách khác tên là “Awakenings” (Tỉnh giấc), kể về câu chuyện của những bệnh nhân đặc biệt này. Cuốn sách càng nâng cao vị thế của ông trong cộng đồng y học vì nó được tán dương và nhận được rất nhiều giải thưởng, bao gồm giải Hawthornden của Anh cho “văn học tưởng tượng”.

Một vụ tai nạn làm hỏng một chân đã thay đổi cuộc đời Sacks và khiến ông bắt đầu một cuốn sách khác.

Năm 1974, Oliver lên đường tới Norway để viết một cuốn sách khác. Trong chuyến đi của mình, ông quyết định đi leo một ngọn núi gần đó. 

Khi ông bắt đầu, ông nhận ra biển cảnh báo cẩn thận với những con bò tót. Ông cười phá lên, nghĩ rằng đó là sự hài hước của người xứ Norway. Cho đến lúc đấy, ông chưa nghe thấy chuyện bò tót sống trên núi bao giờ!

Khi ông tiếp tục trèo lên và rẽ vào một góc, ông đột nhiên đối mặt với một con bò tót khổng lồ. Đầu tiên ông chầm chậm quay lại nhưng rồi bắt đầu chạy, và ngay lập tức ông nghe thấy tiếng con bò tót phi ngay sau mình. Quá sợ hãi, ông hụt chân và ngã ngay xuống gờ đá. Cú ngã đã khiến ông gãy cả hai chân. 

May mắn thay một vài người lạ mặt tìm thấy ông, và ông nhanh chóng được đưa đến Anh để phẫu thuật.

Những bác sĩ buộc phải thực hiện phẫu thuật tái tạo đôi chân của ông. Sau đó, Oliver nhớ lại một cảm giác rất kì lạ, như thể đôi chân của ông bây giờ là một phần thân thể mới mà ông phải học cách sử dụng.

Oliver phải dạy bản thân cách để đi lại, sử dụng âm nhạc để lấy lại nhịp điệu của bước chân. Cảm giác kết nối giữa cơ thể và các chi này được gọi là proprioception (cảm nhận của cơ thể), và trong trường hợp cắt cụt chân nó có thể dẫn đến ảo giác của chân, khi một người có thể thấy đau nhức ở nơi từng có đôi chân cũ của mình. 

Thời kì phục hồi này đã cho Oliver cảm hứng để viết quyển sách tiếp theo. 

Ông cảm thấy rất thú vị khi trở thành một trường hợp để nghiên cứu cho chính mình. Đã là một bệnh nhân, Oliver thỏa sức khám phá sự phức tạp của y học. Và trên hết, ông tìm hiểu được nhu cầu có được phương pháp nhân đạo hơn khi điều trị cho các bệnh nhân. 

Thời gian của Oliver ở phòng điều trị cho ông thấy rằng những chấn thương như thế thường được chữa trị chỉ về mặt thân thể mà không quan đến những ảnh hưởng về thần kinh hay cảm xúc mà bệnh nhân có thể gặp.

Trong cuốn sách A Leg to Stand On (Một chân để đứng), Oliver đã khám phá ra khái niệm “cảm nhận của cơ thể” và cách não bộ điều khiển cơ thể. Cuốn sách được xuất bản năm 194. 

Sacks nổi danh trên toàn thế giới nhưng cộng đồng y khoa lại lảng tránh ông.

Vào những năm 1970 và 1980, Oliver đặt ra mục tiêu nghiên cứu và viết về những trường hợp thú vị của các bệnh nhân tâm thần.

Trong suốt thời gian đó, ông bắt đầu nghiên cứu về thế giới muôn màu của những bệnh nhân với hội chứng Tourette (chứng rối loạn thuộc hệ thần kinh thường khởi phát trong độ tuổi 2 đến 21 và kéo dài suốt đời). Hội chứng Tourette thường mang đến rất nhiều triệu chứng rối loạn liên quan đến ngôn ngữ và hành động hay các co giật.

Năm 1976, một người đàn ông tự xưng là “Witty Ticcy” (Ticcy dí dỏm) – Ray đã đọc nghiên cứu của Oliver và tìm đến ông để xin ý kiến về tình trạng bệnh của mình. Oliver đã rất kinh ngạc khi Ray có thể sống một cuộc đời thành công với căn bệnh về thần kinh nghiêm trọng như vậy. 

Oliver đến tham dự cuộc gặp gỡ của nhóm người hỗ trợ bệnh nhân Tourette và càng cảm thấy tò mò hơn về những đặc điểm của chứng bệnh này. Một vài triệu chứng bao gồm mong muốn được bắt chước người khác và đề cao hình ảnh người đó đó cả về thể xác lẫn tinh thần. Ví dụ, một số người chơi bóng bàn rất giỏi chỉ vì người họ bắt chước rất nhanh nhẹn.

Năm 1989, Sacks viết một bài báo về “Witty Ticcy” Ray. Sau đó, ông được truyền cảm hứng để tìm thêm những câu chuyện như Ray’s. Những trường hợp này đã góp phần tạo nên quyển sách Người đàn ông nhầm vợ mình với chiếc mũ. 

Tiêu đề này xuất phát từ một trường hợp rất đặc biệt của một giáo viên âm nhạc với chứng rối loạn thần kinh khiến ông không thể nhận dạng được con người hay sự vật. Ví dụ, ông sẽ nhầm lẫn giữa đồng hồ đo ở bãi đỗ xe với một người hay nhầm đầu của vợ ông với chiếc mũ. 

Cuốn sách được xuất bản năm 1985 và đứng trong danh sách bán chạy nhất của tạp chí New York Times trong vòng 26 tuần. Oliver trở nên rất nổi tiếng và nhận được những lời mời diễn thuyết khắp thế giới.

Nhưng ông sớm nhận ra rằng hội đồng y khoa trở nên miễn cưỡng khi nhìn nhận ông hay nghiên cứu của ông một cách nghiêm túc. Với nhiều bác sĩ và nhà khoa học, nếu điều gì đó trở nên nổi tiếng, nó không thể nghiêm túc. 

Đến cả những năm cuối đời Sacks vẫn không ngừng di chuyển và đưa những khám phá mới của ông vào những lời văn sống động.

Sự thành công của cuốn sách Người đàn ông nhầm vợ mình với chiếc mũ và việc chuyển thể tác phẩm Thức tỉnh thành một bộ phim Hollywood mang đến một quãng thời gian kì quặc đối với Oliver. Ông không phải là một người hướng ngoại và cũng không phải người có thể ngủ quên trên chiến thắng vì những thành tựu của mình.

“Chúng ta đều là những sinh vật ảnh hưởng bởi sự nuôi nấng, văn hóa và thời đại.”

Ngay cả khi đã già, ông không bao giờ ngừng những chuyến đi.

Năm 1987, Oliver gặp một đứa bé trầm cảm 13 tuổi tên là Stephan Wiltshire người vừa mới xuất bản một cuốn sách với những hình vẽ. Một cách đáng kinh ngạc, chúng là những hình vẽ kĩ thuật rất chi tiết. Vì bệnh trầm cảm của mình, Stephan có thể diễn tả ngay hình ảnh một tòa nhà hay cảnh quan thành phố chỉ sau một cái liếc nhìn. 

Oliver cũng gặp gỡ Temple Grandin, một giáo sư, tác giả và nhà hoạt động về động vật, người sống với bệnh trầm cảm. Grandin càng chứng minh rằng có một chứng bệnh về thần kinh không nhất thiết phải trở nên suy nhược, mà chỉ đơn giản là một “trạng thái khái” (different mode of being) có thể tạo nên sự độc đáo và sáng tạo. 

Sau nhiều năm, Oliver tiếp tục những chuyến đi, và ông tiếp tục viết ở bất cứ đâu ông tới. Năm 1993, ông được mời đến Guam để nghiên cứu những người bị bệnh “Lytico-bodig”, một chứng bệnh thoái hóa tương tự như bệnh “Parkinson” và bệnh “buồn ngủ” mà ông đã từng nghiên cứu ở New York. Tuy nhiên, kì lạ là căn bệnh chỉ tác động lên những người ở cùng Guam. 

Oliver kiểm tra lí lịch của những người này, cũng như là xã hội đặc biệt của những người mù màu sống ở đảo Pingelap ở Micronesia, nơi mà phim tài liệu BBC và một cuốn sách gọi là “Hòn đảo của người mù màu”.

Năm 2000, Oliver tìm thấy nguồn cảm hứng mới với một nhóm người yêu thích việc du lịch cùng nhau ngắm những cây dương xỉ và thế giới tự nhiên. Nhóm này đi tới Oaxaca, Mexico và Oliver tham gia cùng với họ, ông cũng liên tục viết và xuất bản một cuốn sách Oaxaca Journal. 

Oliver đã xem Charles Darwin, Alexander von Humboldt và Henry Walter Bates như thần tượng và rất vui vẻ khi theo bước họ kết hợp khoa học và tự nhiên với việc viết lách. 

Những vấn đề về thị giác lại truyền cảm hứng cho Sacks chắp bút một cuốn sách khác và cuối cùng là tự truyện của ông. 

Điều duy nhất có thể khiến Oliver chậm lại là một căn bệnh. Năm 1990, thị giác của ông bắt đầu giảm sút và cuối cùng ông mất hẳn khả năng nhìn bằng mắt phải. 

Một lần nữa, Oliver sử dụng những kinh nghiệm của mình và của người khác để học thêm về não bộ. 

Một ví dụ điển hình là trường hợp của một người đàn ông tên là Virgil. Bị mù từ nhỏ, Virgil đã quyết định thực hiện phẫu thuật để chữa lành thị giác khi ông 50 tuổi. Trải nghiệm trước đây của Virgil về phẫu thuật được miêu tả là “Một đống hỗn độn ánh sáng và bóng tối và sự di chuyển”, bởi vì não bộ của ông cố gắng học cách xử lí những hình ảnh. 

Oliver cũng nghiên cứu những bệnh nhân miêu tả tầm nhìn của họ như bị “đóng băng” vài giây trước khi trở về bình thường. Một việc như thế này xảy ra khi có ai đó đổ trà vào một chiếc cốc và đột nhiên một khoảnh khắc đứng yên, như thể hình ảnh bất động của một cốc với trà đang được đổ vào giữa không trung. 

Khi thị giác của ông giảm sút, Oliver cũng trải qua những triệu chứng rối loạn tầm nhìn. 

Ông biết rằng những gì chúng ta nhìn thấy chỉ là hình ảnh dựng lên bởi não bộ, là những thông tin được lắp ghép lại để tạo nên một hình ảnh trong tiềm thức. Nếu nhận thức bị phá vỡ, vùng trong não chịu trách nhiệm tạo dựng hình ảnh sẽ nhường chỗ cho một thứ khác, như là khả năng nghe được nâng lên. Ý tưởng đó nằm trong cuốn sách của Oliver năm 2010, Con mắt của tâm trí (The Mind Eye).

Oliver phẫu thuật thay thế chân và lưng năm 2009 để xử lí những cơn đau khủng khiếp ông phải chịu, có lẽ là liên quan đến những ngày nâng tạ ở Muscle Beach. 

Tuy nhiên, khi sức khỏe của Oliver yếu dần, những triệu chứng của ông lại thuyên giảm vì tình yêu. Ở tuổi 77 với 32 năm sống một mình, Oliver đã say đắm một nhà văn viết về khoa học tên là Bill Hayes. Sau một vài sự kiện cảm động, cặp đôi gặp gỡ và gắn bó với nhau. Bản tóm tắt này được dựa trên cuốn sách của Bill. 

“Bạn có thể sống cho tương lai nhưng cuộc đời chỉ có thể được hiểu khi nhìn về quá khứ.”

Kết luận

Chỉ thuốc men thôi là không đủ để chữa lành chúng ta. Trong suốt sự nghiệp của Oliver Sacks, ông đã tìm ra rằng cần phải có sự tư vấn trị liệu đầy đủ để chữa lành bệnh tật. Ông tin rằng những bệnh nhân sẽ tiếp tục không nhận được sự điều trị thỏa đáng nếu họ đến với những chuyên gia không hiểu gì hoặc không quan tâm về toàn bộ câu chuyện của bệnh nhân. Ông gợi ý rằng sự chẩn đoán và điều trị thích hợp đến từ lòng nhân đạo và tình thương với bệnh nhân, cũng như là sự thấu thiểu điều gì đã khiến họ như thế. 

Bạn đọc có thể tham khảo

The Upcycle, William McDonough và Michael Braungart

Người đàn ông nhầm vợ mình với chiếc mũ, Oliver Sacks