Nghi Ngờ: Một Lịch Sử

Doubt: A History, Jennifer Michael Hecht

Nghi ngờ: Một lịch sử (2004) là một cuộc hành trình qua những bí mật được giữ kín nhất của thời đại: những con người đã đứng lên chấp nhận sự thật ngay cả khi phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. Những ghi chép thoáng qua này nhằm chia sẻ câu chuyện của những người nghi ngờ cùng với niềm tin vững chãi trải dài từ thời Hi Lạp và Ấn Độ cổ đại đến với kỷ nguyên hiện đại và cách họ định hình lối sống cũng như cách nghĩ của chúng ta ngày nay.

Ai nên đọc cuốn sách này?

  • Tất cả những ai muốn học về lịch sử của những người nghi ngờ và các quan sát của họ.
  • Những người muốn biết sự kết nối giữa những nhân vật  tưởng chừng như không có liên quan gì đến nhau như Aristotle, Benjamin, Franklin và Job.
  • Những người hứng thú và phê bình về tôn giáo.

Ai là người đã viết nên cuốn sách?

Jennifer Michael Hecht là một cô giáo người Mĩ, nhà văn và nhà triết học. Những quyển sách nổi tiếng khác của cô bao gồm Thần thoại về sự hạnh phúc: Tại sao những gì chúng ta nghĩ là đúng lại sai Ở lại: Lịch sử của tự tử và những lý luận chống lại chúng. Ngoài những tiểu thuyết hiện thực, cô còn là một nhà văn và một nhà xuất bản thơ.

Cuốn sách này nói gì? Nghi ngờ là một hành vi khám phá chân lí đầy tiềm năng xuyên suốt lịch sử.

Cái gì đã kết nối những nhà triết học cổ như Socrates và Confucius với các nhà khoa học hiện đại như Einstein? Tất nhiên họ đều là những nhà tư tưởng vĩ đại, nhưng có một số điều còn hơn thế nữa, điều mà không được đề cập đến thường xuyên như những ý tưởng mới mẻ và các khái niệm của họ. Điều đó chính là sự nghi ngờ.

Xuyên suốt lịch sử, sự nghi ngờ và những người nghi ngờ đóng một vai trò cốt yếu trong sự phát triển của thứ mà chúng ta vẫn biết đến ngày nay: thế giới hiện đại. Sự nghi ngờ này đã trở thành một điểm sáng trong công cuộc cách tân của khoa học, một sự thách thức đối với các nhà cầm quyền và là nền móng của những tôn giáo mới. Nó là nguồn gốc của nỗi thất vọng cũng như tư tưởng trấn an.

Vậy tại sao chúng ta lại chưa biết về nó? Những bản tóm tắt này đã tìm hiểu thứ mà hầu hết các sách lịch sử đều bỏ qua và cho chúng ta thấy bằng cách nào mà sự nghi ngờ không chỉ dừng lại ở thái độ hoài nghi của thế giới hiện đại.

Trong bản tóm tắt này, bạn sẽ khám phá thêm:

  • Cách mà những người bạn hoài nghi đã giúp Moses Mendelssohn trong thế kỉ thứ mười tám;
  • Tại sao sự nghi ngờ của Giordano Bruno lại dẫn đến cái chết của ông và
  • Làm thế nào mà nhà tư tưởng Hồi giáo Yaqub Ibn Ishaq al-Kindi bảo tồn sự nghi ngờ của người Hy Lạp cho thế giới hiện đại.

Nghi ngờ, một lực lượng có tầm ảnh hưởng xuyên suốt thời gian, đã thường bị lược bỏ ra khỏi các cuốn sách lịch sử.

Liệu bạn có nhớ những giờ ngồi học môn lịch sử về tất cả những người phi thường, đầy ý tưởng sáng tạo, những người kiên định với niềm tin của mình và thay đổi thế giới? Tất nhiên, giờ học đó rất hấp dẫn nhưng những câu chuyện mà lịch sử nói với chúng ta lại thường lược bỏ một thứ: sự nghi ngờ.

Tại sao?

Vì những tranh luận và kể cả sự tồn tại của nhiều người nghi ngờ thường bị xóa bỏ khỏi lịch sử bởi các quốc gia và tôn giáo, có thể do họ thường chính là những người chỉ trích các thể chế đó. Đương nhiên, một quốc gia hay một tôn giáo không muốn dành quá nhiều sự tín nhiệm cho những kẻ không mong muốn này và thường tránh công nhận họ bất cứ khi nào có thể.

Hãy lấy Do Thái làm ví dụ. Vào năm 200 trước công nguyên, rất nhiều cộng đồng người Do Thái đã thay thế truyền thống của họ bởi các phong tục tập quán từ nền văn hóa Hy Lạp, bao gồm ngôn ngữ, bài tập thể dục chung, và kể cả những khía cạnh của tôn giáo Hy Lạp.

Kết quả như thế nào?

Một số nhà cầm quyền Do Thái đã cho rằng những cộng đồng này là mối đe dọa và tiêu diệt toàn bộ họ. Hiện nay, họ hầu như không được đề cập đến trong các văn bản tôn giáo chính thức của đạo Do Thái.

Nhưng ngay cả khi lịch sử có đề cập đến người nghi ngờ thì nó thường đối xử với họ như những cá nhân đại diện cho một vài ý tưởng cụ thể. Điều này dẫn đến việc làm lu mờ đi lịch sử vĩ đại về những sự nghi ngờ và mối liên kết giữa chúng.

Thực tế, thậm chí một nhà lịch sử học được đào tạo như tác giả có thể bỏ qua những dấu hiệu của sự nghi ngờ. Lịch sử của việc nghi ngờ luôn luôn nằm ngoài tầm nhìn của cô ấy khi cô làm việc trong những dự án khác, và cần có thời gian để cô có thể tập trung vào nó. Cho đến khi cô ấy nhìn thấy con số chính xác về lượng người nghi ngờ trong lịch sử và cách mà những ý tưởng của họ ảnh hưởng đến nhau, cô ấy mới có ý tưởng viết cuốn sách về chủ đề này.

Và thật may mắn khi cô ấy đã làm điều đó, bởi lịch sử của sự nghi ngờ chứa đựng cả những nhà tư tưởng vô danh với những kiến giải rất trừu tượng và một số bộ óc ưu việt nhất từng tồn tại. Nhưng lịch sử này đã đi xa được đến mức nào?

Nghi ngờ là một thói quen phổ biến từ xa xưa.

Như vậy, rõ ràng nghi ngờ có vị trí quan trọng trong lịch sử hơn chúng ta nghĩ, nhưng bạn có thắc mắc về niên đại của nó? Liệu sự nghi ngờ có tiêu biểu ở một tôn giáo hay nó là một hiện tượng toàn cầu?

Thực ra, kể từ thuở hồng hoang đã có những người nghi ngờ. Lịch sử của sự nghi ngờ có thể được tìm thấy từ Hy Lạp cổ đại qua đế chế La Mã đến thời Trung Cổ, các triết gia thế kỷ mười chín và thế kỷ hai mươi và ngay cả thời hiện đại của chúng ta.

Danh sách những người nghi ngờ gồm những ai?

Những tư tưởng tài giỏi như triết gia người Hy Lạp Socrates và Aristotle, Cicero và Emperor Marcus Aurelius của Rome, nhà triết học Pháp Descartes, nhà tư tưởng giác ngộ Do Thái Moses Mendelssohn và các nhà khoa học như Charles Darwin và Albert Einstein. 

Tuy nhiên, nó còn bao gồm cả những cái tên khác mà bạn có thể không ngờ tới: Benjamin Franklin. Đúng vậy, một trong những người cha sáng lập ra nước Mỹ đã thường nghi ngờ rất nhiều thứ, và đặc biệt là tôn giáo, ngay từ khi còn trẻ.

Nhưng những người nghi ngờ không bị giới hạn chỉ ở Châu Âu và Mỹ. Bạn có thể tìm thấy họ ở khắp nơi trên thế giới. Bên cạnh các đế chế Tây phương cổ đại của Hy Lạp và Rome, người nghi ngờ còn xuất hiện ở phương Đông xuyên suốt lịch sử.

Hãy lấy Khổng Tử, người đã sống ở Trung Quốc vào khoảng năm 500 Trước công nguyên làm ví dụ. Ông ấy nghi ngờ rất nhiều thứ, trong số đó có phong tục hiến tế cho tổ tiên đã chết. Tầm nhìn của ông ấy sống mãi bởi những bài giảng của ông ảnh hưởng đến nền văn hóa và triết học của không chỉ của Châu Á mà cả thế giới ngày nay.

Cũng như sự nghi ngờ không có biên giới địa lý, nó không chỉ dành riêng cho nam giới. Thực tế, có rất nhiều người phụ nữ nghi ngờ có tầm ảnh hưởng lớn trong lịch sử. Trong một thời gian dài, những người phụ nữ nghi ngờ gặp nhiều khó khăn hơn so với nam giới. Thật may mắn cho họ, và chúng ta, rất nhiều người trong số họ đã thắng thế để được biết đến như ngày nay.

Ví dụ, Marie Curie, một nhà khoa học và người nghi ngờ nổi tiếng, đã nghiên cứu về nguyên tử, một khái niệm lần đầu được giới thiệu bởi các triết gia Hy Lạp. Nghiên cứu mà bà ấy đã tiến hành là một phương tiện dẫn đến sự hiểu biết cho khoa học hiện tại về lý thuyết nguyên tử và giúp bà có được giải Nobel năm 1903.

Những người nghi ngờ thường bị ngược đãi và áp bức.

Tuy nhiên, chỉ vì những người nghi ngờ đã xuất hiện trên khắp thế giới và trong suốt lịch sử không có nghĩa là họ đã sống dễ dàng. Tầm nhìn khác biệt của họ đã đem lại rắc rối cho họ.

Đó là bởi vì sự nghi ngờ thường thách thức chính quyền và các giai cấp thống trị. Trong suốt lịch sử, có nhiều ví dụ về các tầng lớp này đã phản ứng một cách đầy bạo lực và áp bức những người nghi ngờ đe dọa quyền lực của họ.

Những tầng lớp đó bao gồm cả các nhà lãnh đạo tôn giáo – những người làm mọi cách để củng cố thêm niềm tin vào giáo thuyết của mình – và các chính trị gia – những người yêu cầu sự đồng tình cho các quyết định cũng như luật lệ của họ. Và những nhà lãnh đạo như thế thường chiêu mộ những người có khuynh hướng bạo lực mà chắc chắn sẽ bị thách thức bởi những bộ óc hoài nghi.

Những người khám xét (Inquisition) là một ví dụ đặc biệt buồn. Họ là lực lượng thi hành và truyền bá tư tưởng của nhà thờ Công giáo ở thế kỉ XV và XVI. Họ tấn công tàn nhẫn những ai dám nghi ngờ nhà thờ hay bất cứ giáo lý nào được giảng dạy ở đó.

Và họ đã tấn công những ai ?

Nạn nhân của Inquisition bao gồm những nhà thiên văn học nghi ngờ ý tưởng Trái Đất là trung tâm của hệ mặt trời. Chỉ vì lý do này mà một nhà truyền đạo người Ý và nhà thiên văn học Giordano Bruno bị kết tội bội tín thần linhvào năm 1600, và bị thiêu sống.

Nhưng không phải chỉ những người nghi ngờ tự thiêu sống để thách thức chính quyền. Một biện pháp phổ biến được các nhà chính trị gia và thủ lĩnh tôn giáo sử dụng để kiềm chế sự lan truyền của những học thuyết đáng ngờ đang thách thức họ chính là tiêu hủy văn bản viết bởi những người nghi ngờ.

Kết quả để lại cho đến tận hôm nay là việc rất khó để xây dựng lại cái nhìn về những người nghi ngờ – lý do chủ yếu khiến lịch sử quên lãng họ. Vào thế kỷ VII trước công nguyên ở Ấn Độ, phong trào triết học Carvaka đã đưa các học thuyết, bao gồm cả niềm tin vào cõi âm, vào nghi vấn.

Số phận của Carvaka hiện nay ?

Những văn bản duy nhất còn sót lại của họ tồn tại dưới dạng trích dẫn trong những phản hồi hoặc lời khước từ chính thức của thế lực thù địch. Tất cả những thứ khác đều đã bị tiêu hủy.

Rất nhiều vụ tấn công vào tôn giáo xảy ra do những người nghi ngờ vĩ đại.

Trái ngược với sự nghi ngờ là gì ? Tất nhiên, đó là niềm tin. Nhưng cái gì sẽ xảy ra nếu hai lực lượng đối nghịch này gặp nhau ?

Cùng với những người nghi ngờ, bản thân các tôn giáo đã đặt sự tồn tại của chúng vào dạng nghi vấn trong suốt chiều dài lịch sử. Đó là bởi vì tất cả tôn giáo đều tin vào một điều gì đó, cho dù đó là sự tồn tại của một sức mạnh lớn hơn hay là thế giới bên kia, bất kể có thể kiểm chứng được hay không. Bởi chính lí do này, tôn giáo dĩ nhiên trở thành mục tiêu cho những người nghi ngờ.

Tuy nhiên, cũng giống như sự nghi ngờ, niềm tin là một khái niệm cổ xưa. Trong thời Hy Lạp cổ đại, tôn giáo và niềm tin vào một người vĩ đại hơn với sự ảnh hưởng đến cuộc sống loài người là nền tảng cho đời sống văn hóa và xã hội. Mặc dù vậy, ngay cả trước khi Hy Lạp cổ đã có rất nhiều ví dụ về hệ thống tín ngưỡng trước đó.

Vì cả sự nghi ngờ và niềm tin đều có nền móng vững chắc trong lịch sử, tồn tại rất nhiều ghi chép về những người nghi ngờ đứng lên đối đầu với chính quyền tôn giáo và với nhà thờ.

Điều đó đã diễn ra như thế nào?

Thông thường, bằng cách khám phá ra sai lầm trong các lập luận của linh mục hay đưa ra những lời giải thích thay thế cho sự xuất hiện của các hiện tượng tự nhiên như sấm. Một số nhà tư tưởng Hy Lạp như Xenophanes đã đặt dấu chấm hỏi về câu chuyện giải thích làm thế nào mà các vị thần đến được với thế giới loài người. Họ đề xuất rằng, ví dụ, các vị thần chỉ đơn giản là những anh hùng vĩ đại của thời đại xưa, con người bình thường trở nên giống với thần trong mắt của xã hội khi sức mạnh siêu nhiêu được định đoạt để thuộc về họ.

Nhưng điều đó không có nghĩa tất cả những người nghi ngờ đều chống lại tôn giáo. Một vài người tuy nghi ngờ một số mặt nhất định của tôn giáo nhưng vẫn có niềm tin vào nó. Trên thực tế, có vài người nghi ngờ vẫn còn tin vào tôn giáo chỉ vì họ có những liên kết khó từ bỏ với nó.

Martin Luther, người thường đặt câu hỏi về những giáo lý ở nhà thờ Công giáo, đã trở nên nổi tiếng vào năm 1517 khi ông đóng một danh sách gồm 95 bài luận của mình vào cửa nhà thờ. Tuy nhiên, ông không có ý định hạ thấp giáo hội mà ông muốn giúp nó vượt qua những sai lầm. Và những ý tưởng của ông thực sự đã đạt nhiều thành quả dẫn đến việc hình thành nên chủ nghĩa phản kháng.

Tôn giáo đôi khi kết hợp chặt chẽ với sự nghi ngờ để giải quyết nó.

Vậy tôn giáo và những người nghi ngờ thường xuyên mâu thuẫn với nhau. Nhưng làm thế nào mà các cơ quan tôn giáo giải quyết được sự đối lập dữ dội này ? Các câu ngạn ngữ cổ đã được áp dụng, nếu bạn không thể đánh bại họ, hãy tham gia cùng họ. Và nếu như nó không có tác dụng, hãy khiến họ phải theo bạn. Tôn giáo đã thực hiện được điều đó bằng cách kết hợp với nghi ngờ, một cảm xúc phổ biến, vào trong những bài giảng của họ.

Bởi tất cả mọi người, kể cả những tín đồ sùng bái nhất, đôi khi còn nghi ngờ và tôn giáo không thể làm ngơ với thực tế này.

Khi Chúa Jesus được phục sinh sau khi bị đóng đinh trên thập tự giá, kinh thánh nói rằng có một tông đồ tên là Thomas đã đặt câu hỏi liệu Chúa Jesus có thật sự sống lại hay không. Ông ấy nói rằng ông ta chỉ tin khi ông có thể đứng trước Chúa Jesus và cảm nhận được vết thương của Chúa.

Nhưng kinh thánh còn có nhiều hơn nữa những câu chuyện về sự nghi ngờ. Trên thực tế, một trong những ví dụ hay nhất về sự nghi ngờ tôn giáo đến từ Cuốn sách về Job trong Cựu Ước.

Ví dụ đó là gì?

Câu chuyện về Job xuất hiện trong tất cả các tín ngưỡng Judeo – Kito giáo kể về Job : Job là một người đàn ông hạnh phúc với đại gia đình, một căn nhà đáng ngưỡng mộ và nhiều tài sản khác trên thế giới. Bên cạnh việc giàu có, Job còn là một người sùng đạo, luôn tham gia vào các hoạt động của tôn giáo và thường xuyên đóng góp cho các tổ chức từ thiện.

Nhưng một ngày nọ, Chúa đã thử thách Job bằng cách lấy đi mọi thứ mang lại hạnh phúc cho Job. Chỉ đến khi Job mất hết gia đình và những gì mà ông ấy sở hữu, Job đứng trước Chúa và hỏi rằng liệu có thật sự là Chúa đã công bằng và nhân từ không. Và Chúa đã xuất hiện và trả lời câu hỏi nghi ngờ của Job.

Trên thực tế, một minh chứng rõ ràng cho tầm quan trọng của sự nghi ngờ, cũng như cuộc đấu tranh với nó, đối với các giáo lý tôn giáo chính là việc những người hoài nghi vĩ đại luôn có một cuốn sách kinh thánh ở bên mình. Câu chuyện của Job đã đại diện cho toàn bộ những người có thể đặt câu hỏi cho một  Đức Chúa toàn năng rằng ai cho phép quỷ dữ và điều bất công xảy ra trên thế giới.

Trong một số rất ít trường hợp, sự nghi ngờ thậm chí trở thành nền tảng cho cả một tôn giáo mới.

Vậy, bạn có biết bằng cách nào mà sự nghi ngờ và tôn giáo đấu tranh và làm thế nào mà chúng thỉnh thoảng hợp tác, nhưng trong một số trường hợp nhất định, sự nghi ngờ các giáo lý cũ thực ra đã hình thành những tôn giáo mới? 

Đó là bởi vì sự nghi ngờ không nhất thiết phải là phá hoại. Một số người nghi ngờ đã chỉ ra các lỗi trong tôn giáo và sử dụng nó giống như một bàn đạp để tạo thành một tôn giáo mới mà họ ưa thích. Hãy lấy Siddhartha Gautama, được biết đến nhiều hơn dưới cái tên Đức Phật, người đã thách thức đạo Hindu trong quá trình hình thành nên một niềm tin mới, làm ví dụ.

Đức Phật nghi ngờ việc đói ăn giúp con người đạt sự giác ngộ, mặc dù đó là một kỹ thuật phổ biến ở các nhà sư Hindu. Thay vào đó, ông đề xuất tìm ra một chế độ ăn ngủ và tuyệt thực phù hợp.

Tuy nhiên, ngay cả khi sự nghi ngờ không hình thành một tôn giáo mới, nó vẫn phục vụ các chức năng quan trọng của việc điều chỉnh tính đúng đắn của nhà thờ. Bởi vì trong khi việc giữ một số truyền thống nhất định rất quan trọng, tất cả các nhà thờ đều cần phải tránh được sự lỗi thời một cách dễ dàng. Đó là lý do mà những người nghi ngờ như Martin Luther, người đã chỉ ra những điều cần phải thay đổi, có thể rất cần thiết cho nhà thờ.

Trên thực tế, sự nghi ngờ có thể có vai trò là nền móng của đức tin tôn giáo. Đó là vì sự nghi ngờ và tôn giáo không phải hoàn toàn đối nghịch nhau và một số người nghi ngờ có thể kiểm chứng các tôn giáo với một con mắt đánh giá trong khi vẫn duy trì sự tin tưởng của họ.

Rất nhiều văn bản triết học Hy Lạp, giống như của Aristotle (một người nghi ngờ), chỉ tồn tại nhờ các nhà tư tưởng Hồi giáo như Yaqub ibn Ishaq al-Kindi, người đã sử dụng chúng trong các tranh luận tôn giáo vào năm 800 sau Công nguyên.

Vậy sự nghi ngờ và tôn giáo đã có một lịch sử dài và thú vị, nhưng sự nghi ngờ còn có những quan hệ tương tác lâu dài với những yếu tố quan trọng khác.

Sự nghi ngờ và khoa học luôn luôn đi liền với nhau.

Trong khi lịch sử của sự nghi ngờ và tôn giáo hầu hết là khác nhau, còn có một lĩnh vực khác dường như cặp đôi một cách tự nhiên với những bộ óc nghi ngờ: khoa học. Trên thực tế, sự nghi ngờ, ở một số khía cạnh, là nguồn gốc của khoa học.

Tại sao lại như vậy ?

Từ rất sớm, những người nghi ngờ đã nổi dậy chống lại những niềm tin mù quáng và làm việc để phát triển những phương pháp tư duy và tranh biện mới. Họ bắt đầu hỏi cặn kẽ mọi thứ có thể và chỉ chấp nhận các thông tin có được từ dữ liệu thực nghiệm và lập luận hợp lý.

Ví dụ, Thales, một vị triết gia Hy Lạp trước Socratic, được biết đến là triết gia đầu tiên của phương Tây, đã bắt đầu bằng cách nghi ngờ những cách giải thích truyền thống và tiếp tục phát triển các phương pháp khoa học của riêng mình. Kết quả là ông ấy đã phán đoán thành công hiện tượng nhật thực từ rất sớm, năm 585 trước công nguyên.

Tuy nhiên Thales chỉ là khởi đầu. Rất nhiều người nghi ngờ vĩ đại là nhà khoa học. Hãy lấy Charles Darwin là một ví dụ điển hình của sự trùng hợp một cách tự nhiên giữa sự nghi ngờ và khoa học. Darwin vô cùng nghi ngờ và sẵn sàng từ bỏ bất cứ lý thuyết nào mà ông thấy không thuyết phục. Cũng vì có một tâm trí rộng mở, ông bắt đầu thấy những quan sát ông ghi lại trong suốt chuyến đi của mình mâu thuẫn với các lý thuyết truyền thống về sự di truyền. Từ đó, ông sử dụng những quan sát khoa học chính xác để phát triển học thuyết của ông về sự tiến hóa.

Mặc dù ban đầu học thuyết của ông bị nghi ngờ, nó bắt đầu lôi kéo thu hút và ngày nay nó trở thành những hiểu biết khoa học hàng đầu về tiến hóa và sự tương quan giữa những loài khác nhau.

Vậy, sự nghi ngờ đã dẫn đến nhiều khám phá tích cực cho nhân loại, nhưng nó không tránh khỏi những hạn chế.

Sự nghi ngờ có thể làm cho con người tuyệt vọng.

Sẽ không công bằng khi ca tụng sự nghi ngờ và tất cả những hiệu quả tích cực của nó mà không đề cập đến những hậu quả tiêu cực của nó : nghi ngờ có thể dẫn đến sự tuyệt vọng.

Bằng cách nào?

Bằng cách để cho người nghi ngờ không chắc chắn và tuyệt vọng. Bởi vì nếu như bạn nghi ngờ về mọi thứ, bạn có thể bắt đầu cảm thấy không có gì là thật và không thể biết được chắc chắn mọi thứ. Và kết quả là sự trầm cảm xuất hiện.

Bạn đã từng thấy cách mà những người nghi ngờ thách thức các giải thích cũ về hiện tượng tự nhiên như việc sấm chớp xảy ra là do sự giận dữ của Chúa thần. Mặc dù điều này rất hiệu quả trong việc tạo ra nhiều kiến thức chính xác về lâu dài, nhưng ảnh hưởng ngắn của nó là đưa mọi thứ vào nghi vấn, điều đó có nghĩa là mọi người không biết phải tin tưởng cái gì hay làm sao để phân biệt sự việc.

Đó là lý do vì sao mà rất nhiều triết học gia người Hy Lạp ủng hộ những nghi thức và lễ hội tôn giáo trong khi nghi ngờ sự tồn tại và bản chất tự nhiên của Chúa.

Tại sao?

Bởi vì họ biết những nghi thức này đóng chức năng quan trọng trong việc giúp con người cảm thấy thoải mái và cho họ những nhận thức đồng nhất. 

Một ví dụ khác cho thấy sự nghi ngờ tuyệt đối có thể vừa tăng cường sự hiểu biết lại vừa làm con người thấy bối rối là hoạt động triết học của René Descartes. Cuốn Chiêm nghiệm về khởi nguyên triết học bắt đầu bằng sự nghi ngờ từ mọi vật thể thực tế, tới độ tin cậy của nhận thức giác quan của chính ông, đến sự tồn tại của Chúa. Ông đã kết luận rằng mọi thứ mà ông ấy nghĩ hay biết đều có thể chỉ là trò lừa bịp của một linh hồn ma quỷ nào đó.

Kết quả là, tự Descartes thú nhận rằng ông ấy không thể nào bỏ qua những nghi ngờ của ông ta, khiến cho ông ta cảm thấy lạc lõng.

Tuy nhiên, sự nghi ngờ sẽ không có một lịch sử lâu dài nếu nó chỉ có những hệ quả xấu cho tiềm thức của con người. Vậy nó đã đạt được điều gì cho nhân loại ?

Sự nghi ngờ có rất nhiều tiềm năng để có thể ảnh hưởng tích cực đến cuộc sống của bạn.

Trở nên nghi ngờ không nhất thiết là điều xấu. Có rất nhiều sự kiện và cảm xúc tích cực mà sự nghi ngờ có thể mang lại cho chúng ta. Hãy nhìn lại một lần nữa vào sự chiêm nghiệm triết học của Descartes.

Việc thử nghiệm dường như buồn chán và vô ích của ông thực ra lại có những kết quả tích cực. Đó là vì Descartes nhận ra rằng sự nghi ngờ của ông ít nhất xác nhận một điều: ông tồn tại. Bởi nếu như ông không làm như vậy, ông ấy sẽ không có thể nghi ngờ tất cả những thứ ông làm.

Nhưng nghi ngờ còn nhiều ưu điểm khác nữa. Những người nghi ngờ có ảnh hưởng tích cực đến nhau. Rất nhiều người trong số họ đã tuyên bố rằng những lời dạy của cá nhân có đầu óc khác biệt giúp họ sống một cuộc sống hạnh phúc và năng suất. Hãy lấy công việc của những triết gia Hy Lạp như Socrates, điều có ảnh hưởng sâu sắc đến cách nghĩ của Descartes làm ví dụ. Hơn nữa, bằng việc thử nghiệm những học thuyết của họ và trao đổi về chúng với những người khác, Descartes lần lượt ảnh hưởng đến những người nghi ngờ vĩ đại khác như triết gia người Hà Lan Baruch de Spinoza.

Một ví dụ hay khác về những người nghi ngờ giúp đỡ lẫn nhau đó là cuộc sống của triết gia người Do Thái Moses Mendelssohn, người sống ở Đức trong khoảng năm 1750. Mặc dù chủ nghĩa bài trừ Do Thái tràn lan vào bối cảnh đó, Mendelsson vẫn có thể sống sót và tận hưởng tự do tương đối nhờ vào sự giúp đỡ của rất nhiều người nghi ngờ và triết gia khác. Một người bạn triết gia của Mendelssohn tên là Marquis d’Argent, đã thuyết phục nhà vua Frederick ký một lá thư bảo vệ Mendelssohn.

Tuy nhiên, ngay cả khi việc nghi ngờ đưa mọi thứ vào sự nghi hoặc, đôi khi chúng ta chỉ có thể chấp nhận thực tế là chúng ta không thể làm một số điều nhất định. Ví dụ, có rất nhiều người nghi ngờ nghĩ về những ẩn ý và sự quan trọng của cái chết.

Những kết luận của họ là gì ?

Có nhiều người cho rằng không cần phải lo sợ về cái chết vì không thể biết được sẽ có điều gì xảy ra sau nó.

Socrates đã đưa ra một câu nói nổi tiếng về hệ quả của cái chết. Trong đó ông lập luận rằng chúng ta không thể biết chắc chắn là có thế giới bên kia hay không và do đó nó không ảnh hưởng đến chúng ta. Bằng việc chấp nhận những thứ không chắc chắn như thế, Socrates đã ra đi trong yên bình.

Thông điệp chính của cuốn sách này :

Những cảm xúc cổ xưa và phổ biến của sự nghi ngờ đã bị lược bỏ nhiều khỏi những trang sử. Tuy nhiên những sự kiện bí ẩn này, được hình thành bởi chuỗi những người nghi ngờ xuyên suốt thời gian, đem lại nhiều ảnh hưởng tích cực đến cho nhân loại.

Lời khuyên hữu ích :

Không nhìn nhận mọi thứ chỉ ở vẻ bề ngoài – thay vào đó hãy duy trì động lực thúc đẩy sự nghi ngờ.

Khi bạn còn là một đứa trẻ, cha mẹ bạn đã từng bao giờ bảo bạn đừng tin mọi thứ bạn thấy trên TV chưa ? Thật ra, điều đó đúng với mọi thông tin, bất kể chính quyền đã thẩm định nó. Để hình thành ý kiến của riêng bạn, điều thiết yếu là cho phép nghi ngờ và hoài nghi một chỗ ở trên bàn. Hãy nhớ đừng sa vào sự tuyệt vọng khi không có gì có vẻ được thêm vào, bởi bạn không cô đơn.

Khuyên đọc thêm 

Bữa sáng cùng Socrates, tác giả Robert Rowland Smith

Bữa sáng cùng Socrates đưa bạn qua một ngày bình thường với những lời bình luận từ các nhà tư tưởng đáng kính nhất lịch sử, giải thích chính xác làm thế nào mà các đóng góp chủ yếu của họ cho triết học, tâm lý học, xã hội học thần học ảnh hưởng đến thói quen sống hàng ngày của bạn: dậy cùng với Descrates, chuẩn bị cho một thế giới xung đột của Freud, và khi bạn đi làm, hoặc là chấp nhận chế độ nô lệ của Marx hoặc là chấp nhận đạo đức làm việc của Weber. Tranh luận với nhà bình quyền nữ người Pháp và rồi trượt vào một bồn tắm ấm áp, nằm trong bong bóng ý thức tăng cao của Đức Phật. Và cuối cùng, kết thúc ngày bằng việc trôi dạt vào tập hợp tiềm thức của Jung.