Cảnh Quan Đạo Đức

The Moral Landscape, Sam Harris

Cuốn sách này khám phá những nghiên cứu vượt trội trong lĩnh vực thần kinh học và triết học giải thích về đạo đức con người. Harris tranh cãi rằng đạo đức có thể được nghiên cứu bằng những câu hỏi khoa học thay vì những giáo lý tôn giáo hay thần học.

Cuốn sách dành cho ai?

Bạn sẽ thấy hứng thú với cuốn sách này nếu bạn quan tâm đến luân thường đạo lý, thần kinh học và bộ não hay thậm chí là muốn biến thế giới thành một nơi tốt đẹp hơn.

Tác giả

Sam Harris là tác giả của nhiều cuốn sách bán chạy theo thống kê của thời báo New York Times như The End of Faith, Letter to a Christian Nation Free Will. Harris đồng thời là người đồng sáng lập và giám đốc của quỹ phi lợi nhuận Project Reason với mục đích nâng cao kiến thức khoa học và những giá trị trường tồn của xã hội.

Khám phá những điều giúp bạn phân biệt đúng sai.

Hầu hết mọi người đều cho rằng họ là những công dân tốt, nhưng các hành động phạm tội hay đánh chỉ trích vượt quá luân thường đạo lí lại tràn ngập trên các trang báo hàng ngày.

Vậy làm sao để một người tốt có thể đánh giá một hành động có phù hợp với chuẩn mực đạo đức hay không?

Thực ra cách đánh giá của mỗi chúng ta khá khác nhau và không thực sự chính xác.

Để có thể̉ hiểu hơn được cách đánh giá đạo đức nói chung, ta nên tìm hiểu thêm về cách thức làm việc của bộ não con người, nơi mà cảm giác về đạo đức hoạt động hơn là các cuốn sách tôn giáo cổ có xu hướng coi nhẹ pháp luật để bảo vệ nguyên tắc đạo đức.

Trong cuốn sách này, bạn sẽ đọc về các nhà tương đối luân lý, những người tin rằng sống trong hạnh phúc hay bất hạnh không phải điều quan trọng.

Bạn cũng sẽ thấy việc có ý định giết một ai đó có thể thay đổi bạn như thế nào.

Cuối cùng, bạn sẽ hiểu được tại sao một số tập tục như hoạn lại bị coi là suy đồi văn hoá ở tất cả các nền văn hoá.

Đạo đức không phải điều gì đó siêu phàm; nó bị chi phối bởi các quy luật vật lí và hóa sinh trong não bộ con người.

Hầu hết mọi người đều có cách đánh giá của riêng mình và luôn sẵn sàng khằng định tính đúng sai của sự việc như giúp đỡ mọi người là tốt và giết người là xấu. Chắc hẳn bạn sẽ đồng ý ngay lập tức đúng không?

Nhưng bạn đã bao giờ suy nghĩ về nguồn gốc của đạo đức chưa?

Nhiều người tin rằng đạo đức được rút ra từ những bài học tôn giáo và được định đoạt bởi sức mạnh thần thánh. Tuy nhiên, chúng ta càng hiểu về não bộ, ta lại càng thấy đạo đức là những sản phẩm tự nhiên của hệ thần kinh.

Vậy hãy tìm hiểu sâu hơn về bộ não: hoá ra không có gì bí ẩn về nó cả, như các cơ quan khác trong cơ thể chúng ta, nó hoạt động nhờ các hoạt động hoá học, điện từ và vật lí như tiết xuất dopamine để các khớp thần kinh hoạt động.

Các quy trình này cùng nhau tạo nên trạng thái của não: một trạng thái vật lý phản ánh trải nghiệm của ta ở hiện tại. Các trạng thái này có ở hầu hết mọi người. Nếu bạn kiểm tra não của hai người cùng thấy buồn, các trạng thái của não sẽ có những biểu hiện giống nhau.

Qua đó ta có thể thấy rằng đạo đức có liên quan đến trạng thái của não: ta quyết định một hành động là đúng hay sai qua việc nó có khiến cho ta cảm thấy thoải mái hay không và trạng thái não “cảm thấy tốt” được điều chỉnh bằng các chất hóa học như dopamine và serotonin.

Ví dụ như hợp tác với người khác là hành động điển hình khiến ta cảm thấy thoải mái. Không ngạc nhiên khi cho người đói đồ ăn (hành vi mang tính hợp tác) lại được coi là tốt hơn để họ chết đói.

Việc trạng thái của não quyết định chúng ta đánh giá các hành động cho thấy cách duy nhất tiếp cận các câu hỏi đạo lý là qua việc hiểu bộ não của mình. Cách tiếp cận này yêu cầu chúng ta phải dùng nhiều kiến thức về đạo đức nhiều hơn là các giai thoại hay truyện ngụ ngôn trong các sách cổ.

Đạo đức có nguồn gốc từ lịch sử tiến hóa của chúng ta.

Như ta đã biết, cách đánh giá của chúng ta liên kết chặt chẽ đến các trạng thái của não. Để hiểu rõ hơn về sự liên kết này, ta cần tìm hiểu về bộ não trong những thời kì đầu của loài người.

Như các sản phẩm khác của sự tiến hoá, não bộ được hình thành theo nguyên mẫu của sự tiến hóa.

Nếu chúng ta nhìn vào các bộ phận khác như cổ của hươu cao cổ hay mắt của chim ưng, ta sẽ thấy chúng được điều chỉnh để phục vụ các mục đích cụ thể. hãy nhớ rằng, dù một bộ phận nhìn tinh tế như thế nào, nó cũng không phát triển nếu không có mục đích.

Sự tiến hoá luôn diễn ra một cách vô tình. Sự đột biến ngẫu nhiên trong gen khiến cho động vật có những đặc điểm riêng biệt như việc dài ra (ở hươu cao cổ) hoặc mất đi cái cổ của nó và những thứ tác động lên khả năng tồn tại và sinh sản theo cách tích cực hoặc tiêu cực.

Điều này có nghĩa là phát triển tiến hóa luôn được dựa trên những gì đã xảy ra trước đó. Bộ não của chúng tôi không xuất hiện từ hư không: chúng là sự hợp nhất giữa những phát triển mới và những thứ cổ kính. Các bổ sung mới có chứa những thứ như thùy trán, chịu trách nhiệm cho hành vi phức tạp hơn. Tuy nhiên, vẫn có một số liên kết cũ ở đó, và các bộ phận mới phải hợp tác với những cấu trúc ít phức tạp hơn này để có thể thực hiện chức năng hoàn chỉnh.

Vậy cách đánh giá của ta xuất phát từ đâu?

Hóa ra là từ tổ tiên của ta. Trong các trạng thái của não, cấu trúc của bộ não mới thể hiện cùng một phản ứng khi đối mặt với hai quan điểm “2+2=4” và “giết người vô tội là sai”. Chắc hẳn là do các cấu trúc não của tổ tiên chúng ta đã được giữ lại.

Điều này cho thấy như bộ não của ta, đạo đức đã phát triển trong suốt một khoảng thời gian dài cho đến ngày nay. Một cột mốc trong quá trình này còn được xem như liên quan tới quá trình tiến hóa của chúng ta: trong một thí nghiệm, những con khỉ đã thể hiện hành vi có đạo đức như cho những con khỉ khác đồ ăn để chúng không bị điện giật.

Ta không thể kết hợp sự tương đối luân lý với cuộc sống của mình.

Khi bạn đến hay đọc về một nền văn hoá khác, bạn có thể tự hỏi rằng liệu cách đánh giá đạo đức có phụ thuộc vào nên văn hóa hay không: những gì được cho là đúng ở một nơi lại là sai ở nơi khác.

Một số người thậm chí tìm hiểu sâu hơn để khẳng định rằng trả lời câu hỏi đạo đức không đơn giản là chỉ có đúng và sai.

Những nhà tương đối luân lý này tranh cãi rằng cách đánh giá của chúng ta chính là sự mô tả cách chúng ta muốn thế giới hoạt động. Điều này có nghĩa rằng cái gì được cho là đúng (giúp đỡ người khác) không thực sự khác với những điều sai trái (giết người). Tuy nhiên, điều đó cũng không hoàn toàn đúng, một số người có cách đánh giá khác biệt so với phần còn lại.

Quan điểm này có một số điểm tích cực, nhưng chỉ cần một bài thử trí não đơn giản là có thể xác định được đúng sai một cách cực kì rõ ràng.

Hãy tưởng tượng hai thế giới song song: một thế giới mọi người đều sống trong đau khổ, mỗi giây phút đối với họ đều là sự khốn khổ tột cùng. Trong khi đó, cư dân của thế giới còn lại được trải nghiệm sự hạnh phúc và bình yên vĩnh hằng.

Liệu bạn có thể nói rằng không có sự khác biệt giữa hai thế giới hay không?

Ví dụ này cho thấy sự vô lý của sự cân bằng đạo đức. Nếu không có câu trả lời chính xác cho câu hỏi đúng sai thì ta phải bỏ lơ toàn bộ những kinh nghiệm của sống của mình, bao gồm cả nỗi đau và sự sung sướng.

Quay lại với hai thế giới, hai thế giới khác nhau như thế nào không quan trọng, quan trọng là ở cách ta trải nghiệm chúng khác nhau. Và khi bạn nghĩ về nó, bạn sẽ dùng kinh nghiệm của mình hay những chuẩn mực đạo đức để đánh giá.

Nếu bạn bị tra tấn liên tục trong thế giới đau khổ, bạn sẽ cảm thấy thoải mái hơn một chút vì cơn đau của bạn là điều bình thường và suy nghĩ cho rằng tra tấn là sai chỉ là suy nghĩ của bạn mà thôi.

Nếu bạn tìm hiểu kĩ hơn về những nhà tương đối luân lý, bạn sẽ thấy họ không hề thực tế, tất cả những gì họ nói chỉ là lí thuyết. Nếu không thì họ sẽ chịu đựng sự khổ sở một cách khác biệt và điều đó cực kì hiếm.

Mặc dù rất khó để định nghĩa nhưng chúng ta có thể đánh giá đạo đức qua mức độ hạnh phúc.

Ngoài việc tranh luận về sự tồn tại của đạo đức chung, câu hỏi lớn nhất về đạo đức lại là: “Ta lấy chuẩn mực nào để đánh giá các hành vi?”. Nói cách khác là điều gì giúp ta đánh giá được một sự việc?

Chúng ta đánh giá một hành động qua sự tăng hay giảm mức độ hạnh phúc của nó, nghĩa là ta định giá mọi thứ trong cuộc sống như sức khoẻ, sự hạnh phúc, các mối quan hệ và nhiều thứ khác.

Ngay cả tôn giáo cũng khẳng định rằng đạo đức mà thần thánh để lại cũng được khuyến khích qua ảnh hưởng tích cực lên sự hạnh phúc của con người.

Ví dụ, làm việc tốt sẽ được lên thiêng đàng, trong khi đó gây ra tội lỗi sẽ bị đầy xuống địa ngục vĩnh cửu. Tuy mọi người theo nói rằng họ làm vậy theo ý định của chúa nhưng thực ra là để được lên thiêng đàng và tránh xa địa ngục.

Mặc dù cách này giúp ta xác định được đúng sai nhưng nó cũng có thể trở thành một tiêu chuẩn sai lệch.

Có một điều khó xử là: Bạn nên quan tâm đến tình trạng hiện tại của mình hay sự hạnh phúc trong tương lai? Điều này đôi khi khiến cho bạn trở nên mâu thuẫn.

Nếu một người quyết định bỏ thuốc, anh ta sẽ phải chịu đựng sự dày vò của cơn thèm thuốc trong một khoảng thời gian nhưng lại tốt cho sức khoẻ và tài chính của anh ta trong tương lai. Hành động này cho thấy sự quan tâm đến lợi ích của mình trong tương lai hơn là hiện tại.

Một điều đáng nói nữa là tăng sự hạnh phúc của một người sẽ làm giảm của người khác.

Lấy ví dụ khi hai người cùng đăng kí xin một việc, một người được nhận có nghĩa là anh ta trở nên hạnh phúc hơn qua sự phấn khích và ổn định tài chính mà công việc mang tới. Trong khi đó người kia sẽ trải nghiệm cảm giác bị từ chối. Vậy bạn dùng sự hạnh phúc nào làm tiêu chuẩn đạo đức?

Các câu trả lời cho câu hỏi đạo đức đều có ý nghĩa, ngay cả khi không thể có những câu trả lời tuyệt đối.

Nhiều người nghĩ rằng đạo đức lệ thuộc vào các nền văn hóa: Cái gì đúng ở nền văn hóa này sẽ sai ở nơi khác. Họ cũng khăng khăng rằng chính vì điều đó mà không có câu trả lời cho câu hỏi đạo đức do các tập tục văn hoá khác nhau.

Nhưng bạn sẽ thấy rằng lí do này không đúng khi được xem xét kĩ hơn.

Vậy hãy bắt đầu với một chủ đề lớn hơn. Liệu mọi câu hỏi, kể cả những câu hỏi đạo đức có thể được trả lời?

Trong một số trường hợp ta không thể tìm ra câu trả lời do thiếu thông tin để xử lí chúng một cách thiết thực. Liệu bạn có thể nói điều ước sinh nhật năm ngoái của tất cả mọi người trên thế giới không? Tất nhiên là không, bạn không có đủ thông tin và cũng rất khó cho bạn để thu thập được toàn bộ thông tin. Do đó bạn cũng không thể tìm hiểu được hết mọi khía cạnh của mọi tập tục văn hóa để có thể so sánh chúng. Tuy nhiên, không thể trả lời một cách thực tế không có nghĩa là không thể trả lời theo lí thuyết. Theo lí thuyết, bạn có thể tạo ra một cuộc khảo sát lớn khắp địa cầu trải dài từ Nam Cực đến Greenland thu thập điều ước sinh nhật của mọi người để có câu trả lời. Điều này có vẻ quá khó nhưng nó chứng minh rằng câu hỏi có thật. Ngay cả khi bạn không thực hiện được như thế bạn vẫn có thể nói cái gì đó ý nghĩa liên quan đến câu trả lời.

Vậy hãy quay lại những câu hỏi đạo đức về các tập tục văn hóa. Cho dù bạn không có câu hỏi chính xác, nhưng bạn vẫn có thể nói cái gì đó ý nghĩa liên quan đến nó. Ví dụ, ta có thể nói các tập tục như hoạn hay ép cưới có thể là xấu vì chúng hiếm khi giúp cho ta hạnh phúc. Qua đó, ta có thể thấy rằng dù không thể nhận xét tập tục nào là đúng theo chuẩn mực đạo đức. Ít nhất ta có thể nói cái nào không đúng.

Có rất nhiều câu trả lời đúng cho các câu hỏi đạo đức.

Mọi người thường nghĩ rằng đạo đức giống như dãy số nhị phân: chỉ có đúng hoặc sai, chứ không có ngoại lệ. Tuy nhiên, ngay cả khi sự việc được cho là đúng, nó vẫn có một số ngoại lệ dựa trên hệ quả bên ngoài. Hãy lấy câu châm ngôn “Ngươi sẽ không giết người” làm ví dụ. Nghe có vẻ như đó là một chuẩn mực để sống nhưng hãy thử tưởng tượng nếu một người mắc căn bệnh hiểm nghèo khiến cho cuộc sống anh ta khốn khổ và nhờ bạn giết anh ta thì việc đó lại có vẻ hợp lí.

Vậy thay vì coi đạo đức như dãy số nhị phân, ta nên nghĩ nó như một cảnh quan đạo đức: hình dung một khung cảnh tràn ngập đỉnh núi và thung lũng, ngọn núi cao nhất tượng trưng cho cuộc sống hạnh phúc, còn thung lũng thấp nhất là biểu tượng của cuộc sống đau khổ. Cách nhìn này cho ta một cách đánh giá linh hoạt hơn về vấn đề. Trong khung cảnh này, ta nên cố trèo lên đỉnh núi và tránh các thung lũng. Có rất nhiều đỉnh núi bạn có thể trèo lên và cái mà bạn nên leo dựa theo nền văn hóa của bạn. Tuy nhiên, nhiều đỉnh núi không có nghĩa là mọi hành động đều đúng như nhau. Dù ta không thể nói đỉnh núi nào cao nhất, ta có thể thấy rõ ràng đỉnh núi tốt hơn thung lũng. 

Điều này giống như đồ ăn vậy; mặc dù không thể đồng ý rằng thức ăn nào là ngon nhất, ta có thể thống nhất rằng loại thức ăn nào tốt cho sức khoẻ. Tương tự như vậy, việc nói rằng đày đọa ai đó không thể tăng mức độ hạnh phúc của người khác được cho là đúng với đạo đức.

Lòng trắc ẩn của con người vốn dễ đổi thay, vậy nên, chúng ta cần một đối tượng khoa học để giải quyết những câu hỏi về đạo đức. 

Liệu lòng trắc ẩn của bản thân có mạnh mẽ? Phần lớn loài người tin rằng họ có, tuy nhiên, sự phán xét đạo đức của chúng ta, thường chịu sự chỉ đạo của các yếu tố thực tế.

Ví dụ như, sự phán xét đạo đức có thể thay đổi khi sự thật là, con người, theo bản năng, thường lo lắng về những mất mát hơn là đề cao những gì họ có thể nhận.

Hãy cùng xem xét một ví dụ, khi một bệnh viện xảy ra hai trường hợp sơ suất đối với bệnh nhi: Một đứa trẻ, một thần đồng với IQ 200, đã vô tình bị tiêm nhầm thuốc khiến mức thông minh của bé tụt xuống chỉ còn 100. Đứa bé còn lại chỉ có IQ 100 nhưng bệnh viện quên không tiêm cho bé thứ thuốc có thể tăng IQ của bé lên 200.

Bởi chúng ta vẫn thường quan trọng hóa những sai lầm mạnh hơn, nên đã quy kết lỗi lầm thứ nhất là nghiêm trọng và đáng lên án hơn, dù cho kết quả của cả hai trường hợp là như nhau.

Một yếu tố khác ảnh hưởng đến cách phán xét của ta chính là sự lưỡng lự của ta khi ta liên quan đến một sự việc nào đó.

Hãy tưởng tượng một tình huống rằng bạn đang trên một con tàu mất lái đang chuẩn bị đâm vào khu vực có mười công nhân đang xây dựng. May thay bạn có khả năng cứu họ bằng cách gạt cần chuyển mục tiêu của con tàu sang nơi mà chỉ có một công nhân thiệt mạng.

Liệu bạn có làm không? Hầu hết mọi người sẽ nói có vì họ nghĩ mười mạng người quý giá hơn một.

Nhưng nếu không có cái cần gạt nào mà thay vào đó bạn phải đẩy một người vào đường đi của con tàu để dừng nó lại thì sao? Hệ quả của hai cách là như nhau nhưng mọi người thường không cảm thấy thoải mái với cái này vì nó cần sự can thiệp trực tiếp.

Khi biết các yếu tố đó ảnh hưởng đến trực giác của chúng ta, liệu ta có thể tin nó được không?

Không hẳn. Ta cần sự trợ giúp của những chứng cứ khoa học và phán xét thích hợp, khách quan. Những bằng chứng này bao gồm những thứ như số người ta cứu được hay ảnh hưởng tích cực lên trạng thái của não.

Tự chủ nghe có vẻ xa vời nhưng nền móng xã hội lại phải dựa trên nó.

Bạn có nghĩ tội phạm nên chịu án phạt cho chúng gây ra?

Các nền móng của xã hội như hệ thống pháp luật thường dựa trên việc ta đươc̣ tự chủ làm việc những mình muốn.

Nhưng liệu suy nghĩ này có đúng?

Khoa học gần đây đã chứng minh rằng sự tự chủ hay tự do không hề tồn tại.

Điều này được chứng minh qua một thí nghiệm mà các tình nguyện viên phải đưa ra quyết định, ví dụ như giơ tay lên, họ có thể mất đến mười giây để cân nhắc suy nghĩ cuối cùng mới hành động. Như vậy, bản thân con người không thực sự quyết định mà bị tác động bởi hàng loạt nhân tố trong quá trình tiềm thức đưa ra lựa chọn mà về sau trở thành nhận thức.

Khám phá này khiến ta phải cân nhắc lại các nền tảng xã hội.

Ví dụ, hệ thống tư pháp hình sự dựa trên những giả thiết căn bản là mọi người đều có khả năng tự chủ. Khi một người tự tử, hệ thống cho rằng họ đã quyết định và đáng bị trừng phạt. Nhưng nếu họ bị ép phải tự tử thì sao?

Rõ ràng là các những điều trên nên thay đổi vì con người không được tự quyết định như họ nghĩ.

Thông điệp của cuốn sách.

Đạo đức không có gì siêu nhiên cả; nó hình thành từ các phản ứng vật lý và hoá sinh trong não bộ. Để có thể đánh giá đúng sai, ta dựa vào việc đó có tăng hay giảm mức độ hạnh phúc hay không. Tuy nhiên, nếu coi đạo đức như một quang cảnh với các ngọn núi và thung lũng, ta có thể thấy nhiều câu trả lời đúng khác nhau cho câu hỏi đạo đức.

Lời khuyên:

Hãy thận trọng với trực giác của mình.

Nếu bạn muốn làm một công dân tốt, bạn nên cẩn thận với các thành kiến về các quyết định mang tính đạo đức. Quyết định càng mang tính liên quan đến bản thân thì càng khó cho bạn để nghĩ về lợi ích lớn hơn. Nếu bạn đang trong một tình huống khó xử, hãy thử nghĩ rằng nếu nó ảnh hưởng đến người khác thì sẽ như thế nào. Điều đó sẽ giúp cho bạn có cái nhìn trực quan hơn.