Sự Nhảm Nhí Thời Thượng

Fashionable Nonsense, Alan Sokal và Jean Bricmont

Tóm tắt chung

Trong Fashionable Nonsense (1998), chúng ta sẽ đi sâu vào một vài khía cạnh gây tranh cãi của chủ nghĩa hậu hiện đại, một xu hướng tri thức ở các trường đại học trên thế giới. Bạn sẽ thấy rằng thứ văn phong cao siêu và phức tạp không phải lúc nào cũng tạo nên những ý tưởng uyên thâm, từ đó khám phá ra sức lan tỏa của những điều nhảm nhí hậu hiện đại có thể thực sự gây hại cho xã hội.

Ai nên đọc cuốn sách này?

  • Những độc giả muốn tìm hiểu thêm về trò bịp Sokal
  • Các học giả và nhà phê bình về thuyết tương đối và những mối nguy tiềm ẩn đằng sau đó
  • Những người đang tìm hiểu về chủ nghĩa hậu hiện đại

Tác giả

  • Alan Sokal là giáo sự vật lí tại Đại học New York và là tác giả của cuốn Behind the Hoax.
  • Jean Bricmont là giáo sự vật lí lí thuyết ở Đại học Louvain của Bỉ. Ông từng chắp bút cuốn Humanitarian Imperialism cùng với Diana Johnstone.

Trong cuốn sách này có gì? Hãy xem là thứ được coi là “chủ nghĩa” kia có thể phá hủy khoa học như thế nào?

Bạn có ngạc nhiên không nếu nghe được rằng một tờ báo về khoa học đăng một bài viết không hề có những thông tin xác thực hay những giả thuyết khoa học? Không thể nào, đúng không? Tuy nhiên, đó chính xác là điều mà Alan Sokal làm được. Ông đã thành công trong việc có một bài báo rất nhảm nhí và hoàn toàn không đúng sự thật được xuất bản. Điều gì đã xảy ra vậy?

Vâng, đó chính là chủ nghĩa hậu hiện đại.

Chủ nghĩa hậu hiện đại là một triết lí học thuật rộ lên cuối những năm 1970 và từ đó đến giờ đã được áp dụng rộng rãi trong các môn nghệ thuật, khoa học xã hội và khoa học nhân văn. Triết lí này vứt bỏ đi những tiêu chuẩn trước đó của quá trình khoa học, không thể hiện một sự thật khách quan nào cả. Hãy cùng tìm hiểu xem chủ nghĩa hậu hiện đại là gì và nó đã đặt ra một vấn đề lớn cho khoa học như thế nào nhé.

Bản tóm tắt này sẽ giải thích được:

  • Chủ nghĩa hậu hiện đại coi những giai thoại về sự hình thành của người Mỹ bản địa hoàn toàn là thực tế có thể xảy ra.
  • Tại sao điều gì đó siêu nhiên xảy ra với một người được coi là khoa học chân chính dưới góc nhìn của một người theo chủ nghĩa hậu hiện đại
  • Những người theo chủ nghĩa hậu hiện đại dùng ngôn ngữ toán học để phóng đại đến mức sai lầm về những giả thuyết của họ như thế nào

“Chủ nghĩa hậu hiện đại” – một cụm từ có trường nghĩa rộng – thử thách niềm tin của con người vào sự thật khách quan

Để hiểu điều gì khiến cho chủ nghĩa hậu hiện đại lại trở thành một vấn đề gây tranh cãi, đầu tiên hãy nhìn kĩ vào những đặc điểm hình thành nên trường phái này.

Chủ nghĩa hậu hiện đại cho rằng sự thật khách quan không tồn tại trên thế giới này.

Những người theo chủ nghĩa này tin rằng tất cả mọi thứ, bao gồm khoa học, là một cấu trúc xã hội. Theo quan điểm của họ, tất cả những dạng truyền thống của tri thức đều bao gồm những ý tưởng bị giới hạn và thiếu tính khách quan về cách vạn vật đang diễn ra. Khía cạnh này của chủ nghĩa hậu hiện đại thường gọi là thuyết tương đối, bởi vì nó ám chỉ rằng mọi thứ ta biết có liên quan đến nhau và dựa vào nhau.

Ví dụ, nhiều bộ tộc người Mỹ bản địa lưu truyền giai thoại về nguồn gốc của mình rằng họ đã sống ở châu Mỹ từ khi tổ tiên mình “đặt chân lên trái đất từ một thế giới bí ẩn của những linh hồn.”

Một vài người theo chủ nghĩa hậu hiện đại cho rằng những niềm tin như vậy là “có căn cứ” và “đúng đắn” bởi vì bằng chứng khoa học chỉ ra rằng những người đầu tiên đặt chân lên châu Mỹ bằng cách băng qua eo biển Bering từ châu Á cách đây 10000 – 20000 năm.

Bằng cách này, những nhà hậu hiện đại gợi ý rằng không tồn tại sự thật khách quan và tất cả mọi thứ đều là sự suy diễn của thế giới. Cho nên, từ góc nhìn hậu hiện đại, thần thoại về sự hình thành người Mĩ bản địa trở nên có căn cứ như một bằng chứng khoa học. Nhưng xét từ góc nhìn khoa học và thực tế, chỉ một điều duy nhất được cho là “đúng đắn”.

Điều đó chính là chủ nghĩa hậu hiện đại có thể cân bằng những tác động tiêu cực của chủ nghĩa hiện đại cực đoan.

Chủ nghĩa hiện đại từng là một bước tiến lớn vào đầu thế kỉ XX, ra đời để phân tích mọi mặt sự tồn tại của chúng ta để tìm ra điều gì đang ngăn cản con người “tiến bộ”. Thỉnh thoảng điều này khiến ta lãng mạn hóa quá đà (over-romanticize) công nghệ và những giá trị Tây phương.

Vậy nên, khi chủ nghĩa hậu hiện đại xuất hiện và cuối thế kỉ XX, chúng ta chợt nhận ra những quan điểm lý tưởng như vậy thường khiến ta hạ thấp hệ giá trị của những nền văn hóa khác.

Và dành chỗ cho một tư tưởng mở và đa dạng hơn với các luồng ý kiến dĩ nhiên sẽ có lợi cho nền văn hóa của chúng ta. Vậy thì, trong những dòng tóm tắt dưới đây, chúng ta sẽ chỉ nhìn nhận chủ nghĩa hậu hiện đại xoay quanh những trường hợp có yếu tố khoa học mà có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng.

Trò bịp Sokal là một sự nhạo báng và phê phán chủ nghĩa hậu hiện đại

Bạn có lẽ đã nghe đến trò bịp Sokal mà trong đó giáo sư vật lí Alan Sokal có một bài báo được đăng trên tạp chí dẫn đầu xu hướng lúc bấy giờ là Social Text.

Mặc dù nó thoạt nhìn có vẻ là không có ý đồ gì, nhưng đó thực chất là một trò mỉa mai được viết theo phong cách của những lý thuyết hậu hiện đại.

Bài báo được đặt tên là “Vượt qua những rào cản: Hướng tới cách thông hiểu mới về trọng lượng lượng tử,” và ngay sau khi nó được đăng lên, Sokal tiết lộ rằng đó toàn là những điều vô nghĩa hậu hiện đại.

Sokal sử dụng dạng cực đoan của thuyết tương đối để dựng lên một tình huống phi logic, trong đó những sự thật chúng ta nhìn thấy trên thế giới chỉ là “sự hình thành về mặt xã hội và ngôn ngữ.”

Để cung cấp bằng chứng, Sokal dùng một thứ ngôn ngữ mập mờ và tối nghĩa trong bài viết của mình, kiểu như: “Pi của Euclid và G của Newton… thời nay được nhìn nhận trong sự thật lịch sử không thể tránh khỏi.” hay “những kẻ được cho là người giám sát lại trở nên mất tập trung một cách chết người.”

Đó nghe có vẻ khó hiểu với bạn nhưng lại chính là luận điểm của Sokal. Trò đùa của ông khắc họa chính xác những mặt nhảm nhí đã hình thành trong chủ nghĩa hậu hiện đại.

Tuy nhiên, bằng việc dùng những biệt ngữ để tạo thành những câu đúng ngữ pháp, và đảm bảo sẽ nhắc đến những cái tên lão làng trong ngành vật lí, Sokal đã thành công khiến bài viết của mình được đăng báo.

Ông dùng những từ như “thông diễn học”, “đặc quyền”, “có xu hướng vi phạm”, và “theo Lacan” – những từ được nhà bào Gary Kamiya gọi là những mật mã “không bí mật” lắm của chủ nghĩa hậu hiện đại.

Không chỉ vậy, Sokal còn có thể tăng cơ hội bài báo được xuất bản bằng việc đánh vào cái tôi và trích dẫn từ sách hay các bài báo viết bởi những biên tập viên của tờ báo đó.

Cuối cùng thì, bài báo của Sokal được đăng lên cho thấy rằng những biên tập viên dễ dàng bị cám dỗ bởi những từ ngữ hoa mĩ và các trích dẫn từ những tác giả nổi tiếng. Quan trọng nhất là, nó chứng tỏ ngay cả những “chuyên gia” hậu hiện đại còn không biết những người bạn cùng chí hướng của họ đang nói về cái gì.

Trò bịp của Sokal cũng châm ngòi cho một cuộc tranh cãi kịch kiệt trong giới học thuật.

Các nhà tư tưởng nổi tiếng như Richard Dawkins, Barbara Epstein (biên tập viên ở The New York Review of Books) và nhà triết học Thomas Nagel hoan nghênh hiệu quả của bài báo. Họ xem nó như một lời chỉ trích mới mẻ về xu hướng tri thức đã trở thành vô nghĩa nhưng được bọc trong một cái vỏ đẹp đẽ.

“Bài báo của Sokal sử dụng các thuật ngữ một cách chính xác. Nó nhắc tới tất cả những người giỏi nhất… Và nó hoàn toàn là một thứ nhảm nhí.” – Nhà báo Gary Kamiya

Những người theo chủ nghĩa hậu hiện đại sử dụng khoa học một cách sai lầm, cả vô tình lẫn cố ý.

Đánh lừa các biên tập viên của một tạp chí khoa học đã trở thành một thứ đáng để tranh luận – nhưng Sokal đã cố gắng mở rộng vấn đề về việc chủ nghĩa hậu hiện đại đã hiểu sai và sử dụng khoa học một cách không chính xác như thế nào.

Là một giáo sư, Sokal đã chứng kiến cách mà những học giả hậu hiện đại ngành khoa học nhân văn và khoa học xã hội sử dụng các khái niệm khoa học không liên quan và không chính xác.

Ví dụ, nhà phân tích tâm lí người Pháp Jacques Lacan nhận là đã sử dụng lý thuyết toán học trong những phân tích của mình. Có lần, ông gợi ý rằng dương vật “tương đương với căn bậc hai của cực âm của sự biểu thị.”

Bạn chẳng cần phải là một chuyên gia về toán, hay một giáo sư vật lí để nhận ra rằng câu nói trên hoàn toàn vô nghĩa và nhảm nhí.

Một ví dụ khác đến từ nhà phân tích tâm lí, nhà ngôn ngữ học và nhà nữ quyền Luce Irigaray. Bà đã vận dụng khéo léo ngôn ngữ để thể hiện tầm ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa, tư tưởng và giới tính lên khoa học.

Thật không may mắn, rất khó để nhìn nhận quan điểm ấy một cách nghiêm túc khi bà có những gợi ý theo trường phái hậu hiện đại rất ngớ ngẩn, chẳng hạn như gọi phương trình giữa khối lượng và năng lượng (E=mc2) của Einstein là phân biệt giới tính bởi lẽ nó “thiên vị tốc độ của ánh sáng hơn là những tốc độ khác mà cũng quan trọng với chúng ta.”

Và sau đây sẽ là một ví dụ nữa về xu hướng hậu hiện đại sử dụng sai những kiến thức bề mặt của toán học và vật lí để phục vụ con đường hậu hiện đại.

Có lẽ ngôi sao sáng nhất của chủ nghĩa hậu hiện đại là nhà triết học Jean Bauldrilard, người đã dùng những thuật ngữ khoa học rất nực cười về lý thuyết hỗn loạn với nỗ lực khiến mọi người hiểu hơn về lịch sử.

Chẳng hạn: “Có thể lịch sử đã tự nó được coi như một sự hình thành hỗn loạn, trong đó tăng tốc thì đặt dấu chấm hết cho độ tuyến tính và sự hỗn loạn gây ra bởi tăng tốc làm lệch hướng lịch sử từ điểm kết thúc của nó, chỉ như sự hỗn loạn đó kéo những kết quả xa ra khỏi nguyên nhân của chúng.”

Nếu câu trên nghe có vẻ nhảm nhí thì bởi vì nó nhảm nhí thật.

Sự tạo lập dễ gây hiểu lầm một cách cố tình này gợi ý rằng một trong những mục đích của chủ nghĩa hậu hiện đại đơn giản chỉ là sử dụng sai các biệt ngữ khoa học để cho một vài ý tưởng nhất định có vẻ uyên thâm hơn bản chất thật của chúng.

“Sự tiến bộ về tri thức sớm hay muộn sẽ làm phá hoại trật tự truyền thống. Suy nghĩ phức tạp, mặt khác, chả dẫn đến điều gì đặc biệt cả…” – Stanislav Andreski

Danh tiếng nhất thời của chủ nghĩa hậu hiện đại đã ngăn chặn sự đánh giá sáng suốt.

Đến bây giờ, bạn có thể đang thắc mắc những nhà tư tưởng hậu hiện đại nổi tiếng như Jacques Lacan và Luce Irigaray đã và đang tuôn ra những lời vô nghĩa một cách rất hùng hồn mà không gặp bất cứ trở ngại nào.

Một lí do có thể là con người thỉnh thoảng nhầm lẫn giữa khoa học và tinh thần khoa học.

Tinh thần khoa học là một niềm tin độc đoán rằng những môn khoa học có tính xác thực cao cung cấp cho chúng ta sự hiểu biết đúng đắn và khách quan nhất về thế giới. Nhưng niềm tin này lại loại trừ tất cả các quan điểm còn lại.

Vì những vấn đề trong xã hội thường phức tạp mà nếu chỉ áp dụng khoa học thì không giải quyết được nên các nhà khoa học xã hội thường không ưa tinh thần khoa học. Và điều này khiến họ rời xa khoa học và cả những phương pháp khoa học.

Ví dụ, vào năm 1968, người Pháp phản ứng dữ dội với tinh thần khoa học trong chủ nghĩa Mác, điều mà những người ủng hộ chủ nghĩa này tin rằng những lý thuyết của họ về xã hội là hoàn thiện. Sự phản đối của người Pháp với tinh thần khoa học đã tạo nên những mầm mống của chủ nghĩa hậu hiện đại.

Điều tương tự có thể thấy được trong những nước cộng sản cũ vào thập niên 1990, nơi mà con người đánh đồng những niềm tin độc đoán về chế độ đàn áp với suy nghĩ khoa học.

Với một lịch sử phát triển như vậy, dễ hiểu rằng chủ nghĩa hậu hiện đại thường được cho là tiến bộ khi nó sự bác bỏ tất cả những ý kiến hoàn thiện, còn những lời chỉ trích được coi là bảo thủ.

Nhưng khi tự vấn tại sao lối viết hậu hiện đại lại vòng vo như vậy, câu trả lời có vẻ khá thẳng thắn: khó hiểu đôi khi lại hay.

Ví dụ, con người thường rất thích tỏ ra thông minh, và nói với ai đó rằng họ hiểu lý thuyết hậu hiện đại là một ví dụ điển hình.

Từ đó một chu kì sai lầm của những thứ nhảm nhí bắt đầu: chủ nghĩa hậu hiện đại trở nên “ngầu” và “uyên thâm” bởi vì nó khó hiểu, điều mà khiến nhiều người viết nên những câu chuyện nhảm nhí vòng vo để trục lợi.

Chúng ta sẽ dễ dàng thấy được sự khó hiểu của những bài viết như vậy làm nản chí ngay cả những người có trình độ cũng, khiến họ không còn hơi đâu mà xét đến độ chính xác những bài viết này.

Tóm lại là, mọi người đều có thể hiểu những câu chuyện diễn ra như thế nào một cách dễ dàng, còn với khoa học thì lại không đơn giản như vậy. Nhưng đáng buồn và xấu hổ thay, không quá khó để viết nên những câu chuyện nhảm nhí về khoa học.

Chủ nghĩa hậu hiện đại gây hại đến tư duy phản biện, thuyết tiến bộ và các môn khoa học xã hội.

Các môn khoa học tự nhiên có một quy luật khá khắt khe về thực hành, điều bảo vệ chúng khỏi sự lạm dụng chủ nghĩa hậu hiện đại. Những môn khoa học xã hội, mặt khác, mềm mỏng hơn và phải chịu đựng những tác hại to lớn bởi việc chấp nhận và cải tiến những xu hướng của chủ nghĩa hậu hiện đại.

Hãy thử nghĩ điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta sống một cuộc đời với sự ghét bỏ khoa học như chủ nghĩa hậu hiện đại và thuyết tương đối cực đoan. 

Hệ thống pháp luật hình sự của chúng ta là một ví dụ điển hình cho tầm quan trọng của phương pháp khoa học đối với tính ứng dụng trong xã hội.

Mọi người chấp nhận sự thật rằng bằng chứng sử dụng trước tòa không chính xác 100% và hệ thống pháp luật hình sự của chúng ta vẫn tồn tại những lỗ hổng. Nhưng, chúng ta vẫn cảm thấy tự tin rằng hầu hết những cuộc điều tra đều có kết quả phù hợp với thực tế. Mọi người cũng tán thành quan điểm rằng các vụ án phải được giải quyết một cách rõ ràng, chứ không được dừng lại ở việc nghi ngờ có căn cứ, và vì vậy nên chúng ta không cần xét đến những mối nghi hoặc vô lí.

Nhưng bởi vì những nhà hậu hiện đại tranh luận rằng vẫn nên xét đến những nghi ngờ, chúng ta có thể bỏ quên việc tìm kiếm sự thật.

Hơn nữa, những quy luật có phương pháp và có tính xác thực cao – ví dụ như mô phỏng lại những thí nghiệm và sử dụng môi trường có kiểm soát – tạo thêm những giá trị to lớn cho cuộc sống của chúng ta.

Hãy nghĩ viễn cảnh của nghiên cứu y học nếu không có những phương pháp này. Và đây là những quy luật hết sức khoa học mà vắng mặt trong lý thuyết của chủ nghĩa hậu hiện đại.

Hơn nữa, việc bỏ qua suy nghĩ logic của những nhà hậu hiện đại sẽ chỉ tiếp tay thuyết phản duy lí trí có thể tìm thấy ở bất cứ đâu trong xã hội.

Từ chối tiếp nhận sự khác nhau giữa sự thật và ảo giác hay thần thoại chỉ củng cố thêm những lập luận vô lí được lan truyền bởi những cá nhân phản động và những kẻ mộ đạo.

Nếu tất cả kiến thức đều xác thực như nhau, điều đó liệu có đồng nghĩa với việc mọi người đều nên nhìn nhận nghiêm túc bài diễn văn tiếp theo phản đối phân biệt chủng tộc hay phân biệt giới tính.

Công nhận là, những nhà hậu hiện đại không tùy hứng ủng hộ sự phất lên của một chủ nghĩa phi lí tính như vậy, nhưng đó thực sự là hậu quả gây nên do hành vi của họ.

Chủ nghĩa hoài nghi cực đoan kiểu như vậy và ứng dụng của ngôn ngữ vòng vo và suy nghĩ khó hiểu đơn giản đã bỏ qua tầm quan trọng của việc tồn tại bằng chứng và sự thật trong cuộc sống của chúng ta. Việc hướng đến sự tiến bộ sẽ bắt đầu với những cuộc đối thoại rõ ràng và trung thực – chứ không phải là những bài giảng đạo nhảm nhí và sai lầm.

“Khi mà uy quyền làm chúng ta sợ hãi, sự rối ren và ngu ngốc sẽ tiếp tay cho những khuynh hướng bảo thủ trong xã hội.” – Stanislav Andreski

Kết luận

Thông điệp chủ đạo của cuốn sách:

Chủ nghĩa hậu hiện đại là một xu hướng tri thức trong những trường đại học trên toàn thế giới. Điều cốt yếu là, nó cho rằng tất cả các bộ phận của tri thức được cấu thành từ xã hội, có nghĩa là không tồn tại sự thật khách quan nào cả. Một vài nhà triết học hậu hiện đại nổi tiếng sử dụng những phương pháp lạm dụng khoa học, và cuối cùng tác động tiêu cực đến xã hội.

Gợi ý sách cùng chủ đề: 

“How Mumbo-Jumbo Conquered the World” của Francis Wheen

How Mumbo-Jumbo Conquered the World (2004) có một cái nhìn cận cảnh về những khuynh hướng phi lí và chúng đã lan rộng và làm biến tướng xã hội như thế nào.