Cho Khế Nhận Vàng

Give and Take, Adam Grant

Cho khế nhận vàng sẽ giúp bạn có cái nhìn khác đi về cho và nhận, nhất là trong lĩnh vực kinh doanh, một lĩnh vực mà khái niệm “Cho” chưa được thừa nhận như là một cách để thành công. Được giới chuyên môn, bao gồm cả những tên tuổi như Dan Pink, Tony Hsieh, Dan Ariely, Susan Cain, Robert Cialdini,… cũng như đội ngũ lãnh đạo của những tập đoàn lừng danh như Google, McKinsey, Merck, Estée Lauder, Nike, và cả NASA đánh giá cao, Cho khế nhận vàng thực sự là một cuốn cẩm nang dạy ta cách thức làm việc, hành xử sao cho đạt hiệu quả cao nhất, với hiệu quả không giới hạn cho một cá nhân nào, mà bao phủ lên thành công của tổ chức cũng như cộng đồng.

Ai nên đọc cuốn sách này:

  • Bất kỳ ai muốn hiểu tại sao những người có thiên hướng cho đi lại thành công trong cuộc sống
  • Bất kỳ ai muốn học cách tạo ảnh hưởng lên người khác mà không đàn áp họ
  • Bất kỳ ai cảm thấy kiệt sức vì đã cho đi quá nhiều

Về tác giả

Adam Grant đang giảng dạy tại Đại học Wharton, là một trong 40 giáo sư trẻ xuất sắc nhất thế giới. Khách hàng của ông là: Google, The NFL, Merch, Pixar, Goldman Sachs, Facebook, Microsoft, Apple, Liên Hiệp Quốc, Bộ quốc phòng, Hải quân, Không quân Hoa Kỳ.

Những sự đền đáp thỏa đáng

Chìa khóa thành công là một tổ hợp: sự lao động chăm chỉ, tài năng và sự may mắn. Tuy nhiên, yếu tố thứ tư cũng quan trọng không kém, nhưng thường bị chúng ta phớt lờ: Cách thức chúng ta tiếp cận và tương tác với người khác.

Sự khác biệt cơ bản của con người nằm ở thái độ và hành động của họ đối với mọi người xung quanh. Trên cơ sở này, người ta chia con người thành ba nhóm. Nhóm Nhận, Nhóm Cho và Nhóm Dung Hòa.

Những người thuộc Nhóm Cho đều chu đáo, tin người và tử tế thái quá đến mức sẵn sàng vứt bỏ lợi ích cá nhân để đổi lại  sự thoải mái cho người khác.

Những người thuộc Nhóm Nhận luôn muốn nhận được nhiều hơn những gì mình đã cho đi. Lợi ích bản thân luôn đặt trên nguyện vọng của người khác. Họ cho rằng, thế giới là nơi người ta tranh đoạt, dẫm đạp lên nhau mà tồn tại.

Những người thuộc Nhóm Dung Hòa, họ hành động theo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi, tức mối quan hệ được kiểm soát bằng sự trao đổi lợi ích.

Mỗi nhóm khuynh hướng lợi ích này đều có những ưu thế và hạn chế nhất định. Có thể bạn sẽ nghĩ rằng, những người sẵn sàng cho đi sẽ chịu thiệt nhất – Bạn đã đúng. Qua nghiên cứu và thống kê, người ta phát hiện ra một sự ngạc nhiên thú vị: Những người thành công nhất cũng chính là những người thuộc nhóm sẵn sàng cho. Mỗi người đều có những khao khát và mục tiêu của mình, và thực sự những người thành công thuộc Nhóm Cho là những người có tham vọng không hề thua kém những người thuộc Nhóm Nhận hoặc nhóm Dung Hòa.

Sự thành công của Nhóm Cho mang tính lan tỏa và cộng hưởng, trong khi một người thuộc Nhóm Nhận có được chiến thắng thì chiến thắng ấy được xây dựng trên thất bại và cay đắng của người khác.

Với mỗi tình huống cụ thể, cho đi chưa chắc đã đồng nghĩa với thành công. Những cuộc tranh đấu nhằm phân định thắng thua, việc cho đi dường như sẽ chẳng thu lại bất kỳ sự đền đáp nào. Lòng tốt và niềm tin không phải là những thứ có thể xây dựng trong một sớm một chiều, cuối cùng những người cho đi đã tạo được danh tiếng và các mối quan hệ có thể mang họ đến thành công.

Khi làm việc nhóm, ta gắn kết với nhiều người thành một đội, những người thuộc Nhóm Cho sẽ có nhiều cơ hội để thể hiện bản thân mình hơn.

Ngày nay, lĩnh vực dịch vụ ngày càng phát triển hơn, chúng ta có xu hướng dành nhiều tin tưởng cho những nhà cung cấp dịch vụ được ca ngợi là “luôn đặt lợi ích của người khác lên hàng đầu.” Khi nói đến những nguyên tắc làm kim chỉ nam trong cuộc sống, trực giác của hầu hết chúng ta đều hướng đến việc cho đi. Hãy cứ cho đi trước, và thành công nhất định sẽ đến với bạn. Nhưng nếu, điều bạn quan tâm duy nhất là thành công, thì rất tiếc, có lẽ cuốn sách này không dành cho bạn.

Chim Công và Gấu Trúc

Tại một vùng quê hẻo lánh Missouri, một người đàn ông xuất thân trong một gia đình bần hàn, ông ta quần quật trên đồng ruộng những vẫn không quên dùi mài kinh sử. Rồi ông cũng lấy được bằng tiến sĩ kinh tế. Ông tham gia hải quân, rồi đảm nhận một số chức vụ quan trọng trong chính phủ Mỹ. Sau đó, ông thành lập công ty riêng, 15 năm sau, công ty của ông trở thành công “dẫn đầu nước Mỹ.” Ông cho thành lập quỹ từ thiện, đóng góp 2,5 triệu đô la cho hơn 210 tổ chức từ thiện. Nghĩa cử cao đẹp của ông đã khiến cựu tổng thống George W. Bush ca ngợi: “Ông là một người đàn ông tử tế và chính trực.”

Kết cuộc, ông ta bị truy tố, rồi ông chết vì một cơn nhồi máu cơ tim trước khi phiên tòa diễn ra. Ông ta chính là Kenneth Lay, chủ tịch của Enron. Kenneth Lay có biệt tài trong việc nắm bắt sở thích và luôn biết cách làm hài lòng những người có địa vị quan trọng, như một con công xòe lông múa để quyến rũ bạn tình. Những nhân vật này thường cảm thấy bị lệ thuộc vào sự tử tế của ông ta, nên ông ta có thể dựa dẫm và nhờ vã họ sau này. Để rồi, Lay cùng Enron từ đỉnh vinh quang đã rơi vào sự sụp đổ. Enron đã lừa gạt, báo cáo khống lợi nhuận, những khoản lỗ bị phanh phui, Enron phá sản. Lay bị vạch trần việc lợi dụng chức quyền ăn tiêu xa xỉ, vun xén tài sản cho gia đình mình. Cái đuôi cáo của ông bị lộ diện.

Ngược lại với Kenneth Lay, Adam Rifkin, một thanh niên trầm lặng ở thung lũng Silicon được giới lập trình đặt cho biệt danh “Gấu trúc vĩ đại.” Adam đã sáng tạo ra phần mềm Knownow, từng tham gia các dự án phát triển siêu máy tính, rồi đảm nhận vai trò là người dẫn dắt và trông nom các cộng đồng trực tuyến. Adam đã thiết lập được mối quan hệ rộng rãi với những nhân vật nổi tiếng và quyền lực, trong đó có cả sáng lập viên của Facebook, Netscap, Twitter,… Anh ta hoàn toàn vô tư trong những mối quan hệ của mình và không hề thích bon chen, tính toán.

Mọi người tìm đến Adam vì họ biết rằng anh là một người tận tâm và tử tế. Adam đã khiến mọi người phải thay đổi và trở thành người biết giúp đỡ mọi người. Anh là một người thuộc Nhóm Cho, có thể tạo ra những giá trị bền vững từ các mối quan hệ của mình.

Để nhận diện những người thuộc Nhóm Nhận, kẻ chỉ biết mình, trước hết, những người này có khuynh hướng tự đánh bóng và muốn thể hiện bản thân, trong đối thoại họ thường xử dụng các đại từ xưng hô số ít: tôi, của tôi, bản thân tôi… thay cho chúng ta, chúng tôi… Họ thường chuyên quyền, kiểm soát gắt gao người dưới quyền nhưng lại khúm núm, xum xoe, bợ đỡ, tăng bốc cấp trên. Rõ nhất là nhìn cách họ đối xử với những người họ cho chẳng mang lợi ích gì cho họ.

Ngày nay, nhờ internet và mạng xã hội ảo, chỉ cần một vài dấu hiệu nhỏ như hình ảnh hay lời bình luận cũng có thể tiết lộ bản chất của mỗi người, kể cả nhận diện ra kẻ vị kỷ. Khi đã công khai với thế giới thì rất khó để những người chỉ biết đến quyền lợi của mình có thể thành công.

Keith Ferrazzi đã tóm tắt nguyên tắc thành công là “sự tử tế.” Chính Adam Rifkin đã tìm ra chân lý: “I find Karma” (Tôi tin vào nhân quả). Phương châm sống của một số doanh nghiệp cũng là: “Ai biết cho đi sẽ thu được nhiều hơn.”

Hiệu ứng lan tỏa

Sau khi tốt nghiệp Harvard vào năm 1978, George Meyer cố tìm kiếm việc làm nhưng không được toại nguyện. Trong 30 năm sau đó, Meyer là linh hồn của chương trình truyền hình The Simpsons, một hiện tượng truyền hình làm thay đổi cả nước Mỹ. Meyer xứng đáng được coi là thiên tài trong số những thiên tài chốn hậu trường. Nghĩa là, ông sử dụng trí tuệ của mình để giúp mở rộng và nâng cao năng lực và kỹ năng thực hiện công việc nơi nhiều người khác nữa. Một đồng nghiệp của ông nói: “Anh ấy hào sảng đến đáng kinh ngạc và luôn tử tế, giúp đỡ người khác.” Meyer hợp tác chặt chẽ với mọi người, luôn cố gắng hỗ trợ đồng nghiệp hết mức có thể. Ông nhận lấy những trọng trách vì lợi ích của cả nhóm chứ không phải vì cá nhân mình, nhờ thế, chính nhóm của họ cũng tốt hơn rất nhiều. Tiếng nói của Meyer vẫn còn ảnh hưởng, mặc dù anh không còn ở The Simpsons nữa, các đồng nghiệp vẫn tư duy theo cách nghĩ của anh ấy.

Một thiên tài khác được đề cập đến ở đây là Jonas Salk, năm 1948, Salk bắt đầu phát triển vắc-xin phòng bệnh bại liệt. Một năm sau đó, các nhà khoa học Enders, Robbins và Weller đã nuôi cấy thành công loại vi rút này trong ống nghiệm mở đường việc sản xuất vắc-xin trên quy mô lớn. Thomas Francis – thầy của  Salk, đã chỉ đạo một cuộc thử nghiệm lâm sàng rồi thông báo: Vắc-xin của Salk “an toàn hiệu quả và hiệu nghiệm.” Salk trở thành người hùng của thế giới.

Trong cuộc họp báo lịch sử vào 1955, Salk đã không công nhận tầm quan trọng của nghiên cứu mà Enders, Robbins và Weller – những người đoạt giải Nobel 1954 – mở đường cho nhóm nghiên cứu của Salk. Bội bạc hơn, Salk không ghi nhận những đóng góp của chính sáu nhà nghiên cứu tại phòng thí nghiệm trong nỗ lực phát triển vắc-xin của Salk. Các nhà nghiên cứu này đã rời cuộc họp báo trong nước mắt.

Khoảnh khắc giành hết mọi công trạng về mình của Salk đã theo ám ông ta suốt phần còn lại của sự nghiệp: bị đồng nghiệp xa lánh, thất bại trong việc sáng chế vắc-xin bệnh aids, không giành được giải Nobel, không được chọn là thành viên học viện khoa học quốc gia. Ông mất 1955. Chính người con trai của ông cũng khẳng định rằng: “Đây không phải là thành tựu của một người, mà là thành tựu của cả một nhóm gồm những con người tận tâm và tài năng.”

Những thiên tài thường có khuynh hướng đánh giá thái quá những đóng góp của mình và xem nhẹ sự đóng góp của người khác. Họ tự xem mình là siêu việt và tự tách mình ra khỏi số đông. Họ luôn làm việc theo ý thích cá nhân, họ “vắt kiệt nhiệt huyết, khả năng và trí thông minh” của người khác. Họ cư xử như một người thuộc Nhóm Nhận.

Trái lại, những người tạo nên thiên tài mang khuynh hướng của những người thuộc Nhóm Cho. Họ đã nhanh chóng nhận ra rằng mình cần đến sự bảo trợ của người khác và coi đây là cội nguồn sức mạnh giúp họ tận dụng được năng lực của mọi người để hoàn thành những công việc lớn lao và đẹp đẽ, và thành quả đó được lan tỏa và chia sẻ cho tất cả mọi người xung quanh.

Tìm ngọc trong cát

Trước đây, các nhà tâm lý học tin rằng, trong bất cứ lĩnh vực nào, thành công phụ thuộc trước hết vào tài năng, sau đó mới đến nỗ lực. Cho nên, các chuyên gia tìm kiếm người người sở hữu những tố chất nhất định, sau đó đào tạo, huấn luyện họ.

Gần đây, các chuyên gia tâm lý nhận ra cách tiếp cận như trên dần lạc hậu. Họ cho rằng, sở thích hay mối quan tâm là “bệ phóng” cho tài năng. Động lực mới là nguyên nhân đầu tiên thúc đẩy chúng ta phát triển năng khiếu của bản thân.

Dĩ nhiên, năng khiếu thiên bẩm là yếu tố đáng xem xét, nhưng một khi ta có trong tay nhiều ứng viên tiềm năng, sự bền bỉ và nỗ lực trở thành một yếu tố quan trọng để đánh giá xem người đó có thể tiến gần đến việc phát huy hết tiềm năng của bản thân hay không.

Giáo sư tâm lý Robert Rosenthal của Đại học Harvard tiến hành một cuộc thí nghiệm: ông nhặt ra 20% số học sinh của một trường tiểu học, ông gọi nhóm này là học sinh có tiềm năng, nhưng thật ra, ông chỉ chọn một cách ngẫu nhiên. Những học sinh của nhóm này chẳng có gì nổi bật hơn bạn bè cùng trang lứa. Điều khác biệt duy nhất nằm ở “suy nghĩ của giáo viên.” Chính niềm tin của giáo viên đã giúp họ dành  thời gian và công sức hơn, hỗ trợ, khích lệ để các em tự tin hơn và cuối cùng đạt kết quả tốt hơn. Một cách vô thức, chính những nhà giáo dục đã khiến các dự báo trở thành hiện thực trong môi trường học đường.

Edon cũng tiến hành các cuộc thí nghiệm tương tự với các tập thể người trưởng thành và cũng đã đạt được những kết quả như mong đợi.

Điều này cho thấy, niềm tin của những người lãnh đạo chính là chất xúc tác để biến các dự báo thành hiện thực. Khi người lãnh đạo thực sự quan tâm và tin tưởng có những hành động hỗ trợ người khác và truyền đạt thông điệp từ niềm tin ấy, nhằm tiếp thêm động lực giúp họ phát huy hết khả năng của mình. Đối với những người vị kỷ, thuộc Nhóm Nhận thì điều này rất hiếm xảy ra, vì họ không sẵn sàng giúp đỡ, hỗ trợ, khích lệ sự tự tin và tạo cơ hội để người khác phát triển.

Đối với Nhóm Dung Hòa, họ thường chờ đợi cho đến khi nhận diện được tiềm năng phát triển của người khác, kết quả là, họ bỏ lỡ cơ hội để biến những người này trở thành ngôi sao thực sự.

Những người thuộc Nhóm Cho không chờ đợi một cách thụ động như vậy, họ tin tưởng một cách lạc quan vào tiềm năng của người khác, họ sẽ tự hướng mình vào nhiệm vụ phát hiện tố chất tiềm ẩn của mọi cá nhân và những “viên ngọc” này có cơ hội tỏa sáng.

Tuy nhiên, không phải lúc nào sự vị tha cũng nhận được kết quả mong đợi. Khi giá trị kỳ vọng không thể đạt được, họ sẽ dừng lại và xem xét, tìm hướng khắc phục, nhưng vẫn dành cho những người này một cơ hội khác, với những lời khuyên định hướng, họ tìm bến đỡ mới phù hợp hơn.

Quyền năng của phong cách giao tiếp ôn hòa

Hai cách cơ bản giúp một người tạo ảnh hưởng với người khác: Dùng quyền thế hoặc dùng uy tín.

Người dùng quyền thế là người có cung cách trịch thượng: thường cất cao giọng, tỏ rõ sự chắc chắn trong quan điểm, vô cùng tự tin, kiêu hãnh, dùng lời đao to búa lớn với thái độ khoa trương. Đó là những kẻ ích kỷ, chỉ cho mình giỏi hơn trong việc áp đảo người khác.

Trái lại, người dùng uy tín là người có cung cách giao tiếp ôn hòa: tôn trọng quan điểm và mong muốn của người khác. Những người này thường tự đặt câu hỏi thay cho câu trả lời, dè dặt, nhún nhường, không che giấu điểm yếu của mình, tìm kiếm lời khuyên thay vì áp đặt suy nghĩ cho người khác.

Năm tôi 26 tuổi, sau khi lấy bằng tiến sĩ tâm lý, tôi được mời giảng dạy về một đề tài tâm lý cho một nhóm các sĩ quan cao cấp của lực lượng không quân Hoa Kỳ. 23 học viên có tuổi khoảng 40 – 50. Tôi quyết định bắt đầu bài giảng bằng cách “đánh phủ đầu” – mặc dù đây không phải là phong cách giảng dạy của tôi ở trường. Tôi giới thiệu bằng cấp và thành tích của mình. Kết quả là, các học viên hoàn toàn không dành cho tôi sự tôn trọng và ngưỡng mộ như mong đợi, tôi rất thất vọng và xấu hỗ. Qua buổi học thứ hai, tôi mở đầu bài giảng một cách thân thiện, cởi mở và khiêm nhường hơn, chính lối giao tiếp ôn hòa giúp tôi xoay chuyển tình thế, sự phản hồi của học viên trên cả tuyệt vời.

Phong cách giao tiếp khiêm nhường của những người thuộc Nhóm Cho sẽ dễ dàng tạo được ảnh hưởng trong bất cứ hoàn cảnh nào. Khi giới thiệu và thể hiện bản thân mình, họ không hề chi giấu những mặt hạn chế của mình, nhờ thế mà thu hẹp được khoảng cách giữa họ và người nghe.

Khi bán hàng, họ đưa ra những câu hỏi thể hiện mong muốn hỗ trợ khách hàng. Trong quá trình thuyết phục và thương thuyết, họ thể thiện một thái độ khiêm nhường và lắng nghe ý kiến của người khác bởi vì họ thực sự coi trọng những đánh giá cũng như những nhận xét được đưa ra từ nhiều góc độ khác nhau.

Giao tiếp khiêm nhường là điều tự nhiên đối với những người vị tha, và đây cũng là một trong những yếu tố chính làm nên thành công của họ.

Mù quáng hay khôn ngoan

Để có thể thành công, ngoài việc sẵn sàng giúp đỡ người khác, bạn còn cần phải tỉnh táo để tránh rơi vào cạm bẫy: bạn sẽ phải hy sinh những lợi ích; nhún nhường, cởi mở, bạn sẽ có cảm giác mình đang bị qua mặt và bị coi là kẻ ngốc.

Vì người khác quên thân là lòng tốt mù quáng, dạng vị tha bệnh lý. Bạn sẽ dễ dàng cảm thấy đuối sức và mệt mỏi, thậm chí còn vô tình đẩy bản thân vào tình trạng cạn kiệt năng lượng, kết quả công việc sẽ bị ảnh hưởng.

Ưu tiên lợi ích của bản thân và ưu tiên lợi ích của người khác, tưởng như hai kết cục đối lập nhau, nhưng thực chất lại là hai “động lực” hoàn toàn độc lập nhau, một người có thể đồng thời sở hữu cả hai. Người tử tế khôn ngoan là biết quan tâm đến lợi ích của người khác nhưng vẫn nuôi tham vọng đạt được những mong muốn của riêng mình.

Để thực hiện lòng vị tha một cách tối ưu là cân bằng giữa việc cho đi và sự quan tâm bản thân. Đừng bận tâm đến mức độ giúp đỡ mà hãy tập trung vào những phản hồi vệ sự ảnh hưởng của những hành động giúp đỡ ấy: Công ty nên tổ chức cho nhân viên đi thực tế để nhìn thấy kết quả mà những sản phẩm và dịch vụ của công ty đã mang đến cho khách hàng. Ở Well Fargo, công ty đã giúp nhân viên thấy được khoản cho vay của họ thực sự thay đổi cuộc đời của khách hàng ra sao. Tại Medtronic, công ty tổ chức cho nhân viên đến thăm các bệnh viên để tận mắt thấy hiệu quả của các thiết bị y khoa của công ty đã giúp ích cho bệnh nhân như thế nào. Qua đó, họ sẽ thấy giá trị mà họ đã mang lại cho người khác, từ đó duy trì và nung nấu lửa nhiệt tình của họ.

Sự thay đổi bối cảnh làm việc, mở rộng đối tượng giúp đỡ, vạch ra kế hoạch thời gian và thời điểm thực hiện việc giúp đỡ người khác. Xây dựng một mạng lưới hỗ trợ để có thể trông cậy vào mỗi khi cần thiết. Có như vậy mới tái tạo sinh lực, thoát khỏi sự nhàm chán, mệt mỏi, kiệt sức, lúc đó, công tác thiện nguyện, giúp đỡ người khác sẽ được khuếch đại tối ưu hiệu quả.

Thoạt nhìn, những người tử tế khôn ngoan dường như không cao cả bằng những người tốt bụng thiếu suy nghĩ. Nhưng nhờ vậy mà họ mới có thể miễn nhiễm trước tình trạng chán nản mệt mỏi, và qua đó, họ duy trì được động lực làm việc để đóng góp nhiều hơn nữa.

Lan truyền sự cho đi trong một hệ thống

Năm 1996, Craig Newmark đã thành lập trang web có tên là Craigslist. Trang web này nhanh chóng trở nên phổ biến và thông dụng nhờ việc nắm bắt bản năng dung hòa lợi ích của hầu hết mọi người. Craigslist là cầu nối giữa người mua và người bán, nơi mà họ thực hiện các giao dịch mua bán, trao đổi hàng hóa đã qua sử dụng.

Tương tự như Craigslist, năm 2003, Beal lập trang web Freecycle, nhưng Beal áp dụng một phương thức đặc biệt: không cho phép thực hiện giao dịch hoặc mua bán ở đây, và thay vào đó, tất cả hàng hóa phải được cho đi vô điều kiện. Vì Beal nghĩ, trên đời này, hầu như ai cũng hiểu rằng có những thứ không đáng giá với mình nhưng lại là cả gia tài của người khác.

Đến 2005, Freecycle có hơn một triệu thành viên. Thông thường, người ta gia nhập Freecycle với suy nghĩ rằng, mình có thể nhận được một thứ gì đó mà không phải trả tiền, hoặc vứt đi một thứ gì đó mà không tốn một xu lệ phí cho bãi phế thải. Nghĩa là họ cho và nhận từ động cơ ích kỷ.

“Để vứt một tấm nệm cũ, tôi phải mượn một chiếc xe tải, chở đến bãi rác phế thải rồi phải trả tiền cho bãi rác. Nhưng khi qua Freecycle, có người đồng ý nhận tấm nệm của tôi, họ xuất hiện trước cửa nhà và nói lời cảm ơn một cách chân thành. Tôi đã run lên vì sung sướng, tôi cảm thấy hạnh phúc. Nhưng rồi tôi hơi áy náy, vì thế tôi quyết định bắt đầu cho đi những món đồ khác nữa,” Beal kể.

Có rất nhiều ông bố bà mẹ cần sự giúp đỡ trong thời điểm khó khăn, họ đã nhận được xe đẩy, nôi em bé, ghế ngồi em bé… khi không cần đến nữa, thay vì bám lại trên Craigslist, họ quyết định tặng lại cho những người khác có nhu cầu trên Freecycle.

Khi Freecycle mới thành lập, một trong những thành viên đầu tiên là một ông cụ 89 tuổi, ông cần mẫn thu gom phụ tùng để sửa chữa những chiếc xe đạp cũ rồi tặng chúng cho các em bé trong vùng. Nghĩa cử đó của cụ được mọi người trọng nể. Khi một thành viên nhận một món đồ nào đó trên Freecycle, họ nhận món quà một cách vô tư, lúc này món quà đó sẽ có ý nghĩa và được trân trọng hơn.

Nghĩa cử cao đẹp của người khác có tác dụng “gột rửa tâm hồn, xóa đi những cảm giác hoài nghi”, thay vào đó là truyền cảm hứng về ý thức đạo lý, phẩm hạnh. Khi cảm nhận bản thân được khích lên nâng cao phẩm giá, chúng ta cảm thấy như thể trong một khoảnh khắc mình trở nên bớt ích kỷ đi và hành động vì mọi người hơn.

Trong tất cả những hành động giúp đỡ lẫn nhau qua lại này, có đến 99% xuất phát từ việc người nhận trực tiếp yêu cầu trợ giúp.

Cộng đồng Freecycle lớn mạnh lấy lợi ích của người khác làm tôn chỉ hoạt động, khiến những cá nhân gia nhập Freecycle với mục đích kiếm lợi ban đầu dần bị ảnh hưởng và điều chỉnh sang hành động hướng đến người khác nhiều hơn. Họ cảm thấy thoải mái và cởi mở hơn. Giúp đỡ một ai đó trong tập thể hay cộng đồng của chúng ta, đồng nghĩa với sự giúp đỡ chính mình vì khi đó chúng ta đang gia tăng giá trị cho chính cá nhân mình và cho chính tập thể.

Thoát khỏi chiếc bóng

Derek là một chuyên gia đàm phán hợp đồng của câu lạc bộ. Để tiếp nhận một cầu thủ triển vọng, anh đàm phán với người đại diện của họ. Khi mới bắt đầu, Derek đưa ra mức giá rất thấp, người đại diện thất vọng vì các cầu thủ tương đương có mức lương cao hơn. Anh ta lên án Derek đã quá chèn ép. Cuối cùng, người đại diện cũng phải bỏ cuộc và chấp nhận các điều khoản mà Derek đưa ra.

Trở về nhà, tối hôm đó Derek cảm thấy bức bối, hình ảnh người đại diện thất vọng, không cần chú ý lắng nghe, và có lẽ, anh ta có một ấn tượng không tốt về mình. Derek quyết định xé bản hợp đồng đã ký và sẽ đáp ứng những yêu cầu ban đầu của người đại diện. Derek nghĩ: “Sự nhẫn tâm” của anh sẽ được đồn xa, rồi uy tín, danh tiếng sẽ bị ảnh hưởng.” Những người thông minh hơn có thể nắm bắt được những mong muốn thực sự của đối phương. Ở đây, Derek chỉ nghĩ về mình và về câu lạc bộ, nếu đạt được một lợi ích nào đó trong ngắn hạn bằng sự ép buộc tước đoạt từ người khác thì chắc chắn sẽ trả giá gấp bội trong tương lai.

Thành công không thể đánh đổi sự trả giá của người khác, mà phải luôn tìm cách để gia tăng lợi ích cho bản thân cũng như cho mọi người xung quanh. Đối với người ích kỷ thì thành công là cuộc chiến thắng – thua một chiều. Nhưng trong thế giới vị tha, tất cả mọi người được hưởng lợi nhiều hơn, dẫn đến thành công chung sẽ lớn hơn.

Bằng cách thay đổi hướng lợi ích của người khác, chúng ta sẽ đạt nhiều thành tựu hơn, cuộc sống sẽ có ý nghĩa hơn và truyền cảm hứng đến nhiều người hơn.