Phải Trái Đúng Sai

Justice: What's the Right Thing to Do?: Sandel, Michael J ...

Justice, Michael J. Sandel

Tóm tắt

Công lý là gì? Làm thế nào chúng ta có thể hành động một cách công bằng và chính xác về mặt đạo đức? Dựa trên ví dụ khác nhau từ cuộc sống hàng ngày, Michael J. Sandel cho thấy khái niệm công lý dựa trên các chủ nghĩa triết học khác nhau, được đưa ra bởi các triết gia như Aristotle và Kant. Trong suốt cuốn sách, ông khiến chúng ta tự vấn chính mình về tính đúng đắn của niềm tin của bản thân và công ước xã hội. 

Cuốn sách này dành cho:

  • Bất kỳ ai quan tâm đến đạo đức và triết học;
  • Bất kỳ ai muốn tìm hiểu thêm các khái niệm về công lý;
  • Bất kỳ ai đang tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi triết học trong cuộc sống.

Về tác giả

Michael J. Sandel (1953) là một triết học gia người Mỹ. Ông tốt nghiệp Đại học Oxford và giảng dạy triết học chính trị tại Đại học Harvard trong suốt ba thập kỷ. Bài giảng về công lý của ông trở nên nổi tiếng đến mức toàn bộ các suất có mặt trong hội trường đều được đem ra đấu giá. Trong năm 2009 các bài giảng của ông được ghi lại như tư liệu trên truyền hình Mỹ và bây giờ có thể được xem trực tuyến tại http://www.justiceharvard.org.

Niềm tin và sự hiểu biết của chúng ta về công lý mang tính chủ quan và thay đổi liên tục.

Công lý là một trong những chủ đề thường xuyên gây tranh cãi và khó nắm bắt nhất trong triết học, vì sự hiểu biết của chúng ta về nó là chủ quan, thay đổi liên tục trong quá trình lịch sử.

Hy sinh cuộc sống của một người để ngăn chặn cái chết của nhiều người khác liệu có đúng đắn không? Đánh thuế người giàu để giúp người nghèo có thực sự công bằng? Nạo phá thai là quyền con người, hay là tội ác?

Câu trả lời cho những câu hỏi trên khác nhau tùy thuộc vào từng cá nhân. Mọi người thường nhìn nhận vấn đề dựa trên quan điểm hình thành bởi kinh nghiệm, vốn sống, quan điểm, các giá trị khác nhau, và không may thay, kể cả những định kiến hay sự bất bình, đều đóng vai trò quan trọng khi chúng ta đánh giá mọi việc.

Hơn nữa, lịch sử triết học cho chúng ta thấy rằng đáp án các câu hỏi của công lý luôn luôn bị ràng buộc bởi thời đại chúng nảy sinh.

Trong lý thuyết cổ đại như triết lý củaAristotle, công lý đã được liên kết chặt chẽ với đức hạnh và “cuộc sống tốt”: một xã hội chỉ có tính đúng đắn chỉ khi nó nuôi dưỡng và khen thưởng giá trị nhân đức của dân sinh. Vì vậy, trước khi chúng ta đặt vấn đề về công lý, chúng ta phải biết thế nào là một cuộc sống tốt đẹp.

Theo một triết lý hiện đại hơn như Thuyết vị lợi, công lý luôn xoay quanh sự thịnh vượng chung: công lý là những gì làm tăng cảm giác hạnh phúc của đa số.

Lý thuyết hiện đại khác như Chủ nghĩa tự do cá nhân nhìn nhận phần quan trọng nhất của một xã hội công bằng là bảo đảm sự tự do cho mỗi cá nhân để sống cuộc sống của họ, theo quy tắc riêng của họ và làm những điều họ muốn.

Chúng ta nhận thức rõ nét về công lý qua những phương thức khám phá quan điểm triết học khác nhau.

Mặc dù việc đưa ra một định nghĩa phổ quát cho công lý là không tưởng, nhưng chúng ta có thể tìm hiểu các học thuyết khác nhau về công lý trong lịch sử triết học, so sánh, cân nhắc những điểm mạnh điểm yếu của từng chủ nghĩa, để từ đó có được cái nhìn tổng quan toàn diện nhất.

Do đó, chúng ta không nên coi các nhà triết học vĩ đại như nhà tư tưởng lỗi thời, hãy coi như người đối thoại và cố vấn về vấn đề vẫn gây tranh cãi trong cuộc sống hàng ngày: Chúng ta nên đánh thuế lũy tiến như thế nào? Tôi có được phép đưa ra những lời hứa tôi không thể thực hiện? Chúng ta có thể gây dựng những lập luận vững chắc cho hôn nhân đồng tính? Triết gia như Kant, Aristotle và John Rawls lần lượt đưa ra các đáp án giúp chúng ta tìm ra lời giải cho riêng mình.

Nắm bắt các quan điểm khác nhau về công lý có thể giúp chúng ta nhận thức nó khách quan và sắc sảo hơn, tự vấn bản thân về điểm nhìn công lý phiến diện của mình trước đó, khám phá những phương thức mới tiếp cận các vấn đề phức tạp dưới một góc độ mới.

Bằng cách hỏi đúng câu hỏi, so sánh các đáp án khả dĩ và đánh giá chúng theo các tiêu chuẩn khác nhau dựa trên các trường phái triết học, chúng ta có thể phát triển ý tưởng về khái niệm công lý.

Thuyết vị lợi: Hành động chỉ đúng đắn khi chúng thúc đẩy lợi ích chung.

Người sáng lập và là nhà hoạt động nổi tiếng nhất của trường phái Thuyết vị lợi là Jeremy Bentham (1748-1832), một nhà triết học đạo đức và cải cách xã hội người Anh. Học thuyết vị lợi của ông giả định rằng tất cả những người muốn theo đuổi niềm vui và hạnh phúc và đều tránh đau đớn và bất hạnh. Giả định này là nền tảng của các tiêu chuẩn đạo đức vị lợi.

Theo triết lý này, các hành động tạo sự giàu có hay hạnh phúc là đạo đức, trong khi hành động kích thích sự bất hạnh hay khổ đau là sai trái. Một ghi chú quan trọng là thuyết vị lợi không xét hạnh phúc của riêng một cá nhân mà tính đến tổng hạnh phúc của tất cả mọi người. Một hành động công lý thực sự thúc đẩy sự hạnh phúc của nhiều người, không chỉ là của một cá nhân.

Ví dụ, mặc dù một vụ án sát hại người tình có thể thúc đẩy sự thịnh vượng của kẻ giết người nhưng đó là dấu chấm hết cho hạnh phúc của người đã khuất và gây ra những đau đớn tột cùng cũng như sự chịu đựng cay đắng cho người nhà và bạn bè của nạn nhân. Theo logic thuyết vị lợi, kẻ phạm tội giết người là sai lầm về mặt đạo đức vì nó không thúc đẩy mức độ cao nhất của hạnh phúc.

Nhưng mọi thứ lại khác khi chúng ta bàn luận về trường hợp một kẻ độc tài tàn ác bị sát hại: theo nguyên tắc của thuyết vị lợi, nỗ lực ám sát Hitler vào ngày 20 tháng 7 năm 1944 nếu thành công được coi là đúng tiêu chuẩn đạo đức, vì nó có thể bảo vệ tính mạng của rất nhiều người sau này.

Một trong những chỉ trích lớn nhất của thuyết vị lợi liên quan đến tính ứng dụng thực tế của nó. Càng nhiều nhân vật bị ảnh hưởng bởi quyết định của ta, sẽ càng khó để xác định lượng hạnh phúc hay đau đớn có thể xảy đến. Những quyết định chỉ ảnh hưởng đến một vài nhóm nhỏ (ví dụ như “Tôi có nên giúp một cụ già qua đường hay không?”) tương đối đơn giản đối với Thuyết vị lợi. Tuy nhiên, những quyết định ảnh hưởng đến hàng triệu người (ví dụ “Những chính sách giáo dục nào mang đến nhiều hạnh phúc nhất?”) thường có hậu quả phức tạp và khó đoán. Nguyên nhân là bởi, cân đo đong đếm hạnh phúc hay khổ đau có thể xảy ra với các quyết định mấu chốt là điều không thể.

Chủ nghĩa tự do: Công lý là bạn có quyền sống và làm mọi thứ bạn cảm thấy hợp lí.

Triết lý của chủ nghĩa tự do dựa trên nguyên tắc tự do là tài sản quan trọng nhất của con người. Tất cả các quyền và nghĩa vụ khác hoặc là phụ trợ hoặc xuất phát từ nguyên tắc này. Tự do của chúng ta chỉ có thể bị hạn chế nếu nó ảnh hưởng đến quyền tự do của người khác.

Và như vậy, chủ nghĩa tự do nhìn nhận công lý là sự tôn trọng và bảo vệ quyền tự do của công dân. Các hậu quả nảy sinh từ học thuyết này có một ý nghĩa chính trị và kinh tế trên phạm vi lớn: ví dụ như, nhà nước hay bất cứ thế lực nào không được phép quản lý thu chi tài chính của công dân. Luật pháp can thiệp vào thị trường tự do là vi phạm quyền tự do của cá nhân và do đó là không công bằng. Chủ nghĩa tự do lên tiếng chống lại các loại thuế, các khoản đóng góp an sinh xã hội và bảo hiểm y tế công cộng – họ coi đó là một sự ức chế hoặc trộm cắp.

Tuy nhiên, họ cũng ủng hộ những quan niệm tiến bộ hơn: họ ủng hộ hôn nhân đồng tính, phá thai và sự tách biệt giữa nhà thờ và nhà nước, vì tất cả những quan điểm này đều phù hợp với sự tự do cá nhân.

Tất cả quan điểm của chủ nghĩa tự do được thống nhất bởi suy nghĩ: miễn là tôi không gây tổn thương hay làm hại đến ai, không ai có quyền bảo tôi phải tin điều gì, phải yêu ai hay chỉ bảo cách kinh doanh như nào. Một xã hội chỉ công bằng khi cá nhân đảm bảo được hoàn toàn tự do để sống và hành động theo lý tưởng của họ.

Các nhà kinh tế Friedrich A. von Hayek (1899-1992) và Milton Friedman (1912-2006) là triết gia nổi tiếng nhất của chủ nghĩa tự do. Ý tưởng của họ rất phổ biến trong những năm 1980, như đã thấy, điển hình là các chính sách ủng hộ thị trường tự do kinh doanh với chính quyền cơ bản dưới thời Reagan và Thatcher.

Kant I: Chúng ta phải làm điều đúng với động cơ đúng.

Triết gia người Đức Immanuel Kant (1724-1804) cho rằng giá trị đạo đức của một hành động dựa trên những động cơ trước đó. Ông cho rằng một hành động được coi là đạo đức khi và nó được làm vì lí do đúng đắn. 

Kant sử dụng các ví dụ sau đây để lí giải câu hỏi thế nào là hành động của lẽ phải và có đạo đức.

Một đứa trẻ bước vào một cửa hàng tạp hóa và muốn mua một ổ bánh mì. Người chủ tạp hóa có thể báo giá cao hơn bình thường mà đứa trẻ không nhận ra, vì nó còn quá nhỏ và chưa có kinh nghiệm. Tuy nhiên, anh ta không làm điều đó – với lý do nếu mọi người phát hiện ra rằng anh đã lừa một đứa trẻ, công việc kinh doanh của anh ta sẽ có thể có nhiều bất lợi.

Như vậy người chủ cửa hàng tạp hóa có đang hành động theo đúng chuẩn mực đạo đức?

Kant sẽ nói không, bởi vì chủ tiệm tạp hóa chỉ đang hành động vì lợi ích cá nhân. Hành vi của anh ta được coi là thiếu tính đạo đức chính đáng. Một hành động đúng đắn không chỉ là những điều thực dụng hay xuất phát từ lợi ích bản thân anh ta.

Bằng cách này, Kant bác bỏ triết lý của thuyết vị lợi vì nó dựa trên toan tính của con người. Trong Thuyết vị lợi, không quan trọng hành động được thực hiện với mục đích nào, miễn là kết quả hành động có tính đúng đắn, nó sẽ được coi là đạo đức. Đối với Kant, điều này dạy chúng ta luôn cố gắng để luôn có được kết quả tốt nhất cho tình huống của mình. Tuy nhiên, khả năng để chỉ một hành động là đúng và sai chỉ đóng một vai trò nhỏ còn mục tiêu đằng sau nó mới chiếm vị thế cốt yếu.

Vì vậy, những phản bác của Kant có nghĩa gì đối với người chủ tiệm tạp hóa?

Đơn giản là, hành động của anh ta được coi là đạo đức nếu anh quyết định bán ổ bánh mì cho đứa trẻ với mức giá bình thường đơn giản chỉ vì nó là sai trái nếu lừa gạt người khác.

Kant II: Hành động công lý là hành động tuân theo Mệnh lệnh tuyệt đối.

Sự khác biệt giữa một quả bóng bi-a và một con người là gì?

Tất nhiên, người ta có thể nghĩ ra cả tá câu trả lời khác nhau cho câu hỏi này. Tuy nhiên, theo Kant, điều quan trọng nhất là: bóng bi-a hoàn toàn phụ thuộc quy luật vật lý thông thường: Khi ta đánh nó, nó lăn về phía trước; nếu chúng ta thả nó, nó sẽ rơi.

Đương nhiên, chúng ta cũng tuân theo các quy luật tự nhiên: nếu ai đó đẩy ta xuống vực, chúng ta phản ứng theo cách tự nhiên là rơi thẳng xuống đáy vực sâu thẳm. Nhưng không giống như những quả bóng bi-a, chúng ta có thể đưa ra quyết định tự nguyện và chọn con đường riêng của chính mình – dù các ảnh hưởng bên ngoài có như thế nào. Quả bóng bi-a chỉ biết định luật vật lý, nhưng con người chúng ta có thể tự tạo ra quy tắc và hành động theo những quy tắc ấy.

Thuyết mệnh lệnh tuyệt đối nổi tiếng của Kant tuyên bố rằng: “Một hành động chỉ nên được thực hiện khi phương châm hành động của nó có thể trở thành một luật tự nhiên phổ quát”. Nói cách khác: bạn hãy hành động dựa trên nguyên tắc mà bạn nghĩ rằng tất cả mọi người nên làm theo.

Dưới đây là một ví dụ: Tôi có nên hứa suông điều mà tôi không thể thực hiện? Hoặc đề nghị ai đó một khoản vay ngay cả khi tôi biết tôi không thể trả lại tiền?

Theo mệnh lệnh tuyệt đối, điều này không được phép. Bởi vì nếu bất kỳ ai cần tiền cũng hứa suông, không một ai còn có thể tin tưởng người khác sẽ giữ lời hứa nữa.

Đối với Kant, mệnh lệnh tuyệt đối là một bài kiểm tra giúp chúng ta hành động theo nguyên tắc đạo đức và công bằng. Nếu chúng ta không thể dung hòa hành động của mình với mệnh lệnh tuyệt đối, các hành động đó đã sai về mặt đạo đức.

Rawls I: Chúng ta chỉ hiểu thế nào là công bằng khi tất cả địa vị xã hội đang có được cất giấu sau bức màn vô hình.

Để hiểu được những trụ cột phổ quát của công lý, triết gia người Mỹ John Rawls (1921-2002) đưa ra gợi ý thực hiện những thí nghiệm tưởng tượng sau đây: Chúng ta nên tự hỏi mình về những nguyên tắc xã hội chúng ta sẽ sống nếu chúng ta tồn tại trong trạng thái giả thuyết bình đẳng tuyệt đối, đằng sau một “bức màn vô minh.”

Bằng tấm màn che của vô minh và nhà nước về bình đẳng tự nhiên, Rawls đưa giả thuyết không có lớp học, giới tính, dân tộc, quan điểm chính trị xã hội hay tôn giáo tồn tại ở đây. Tất cả chúng ta đều như nhau: chúng ta không biết chúng ta đến từ đâu, chúng ta thuộc loại da nào, nói ngôn ngữ gì và đóng vai trò gì.

Trong trường hợp này, chúng ta sẽ chọn những nguyên tắc xã hội nào?

Để bắt đầu, chúng ta sẽ loại Thuyết vị lợi vì nó có thể dẫn đến sự áp bức. Dựa trên logic của thuyết vị lợi, việc ném người vô tội vào chuồng sư tử là hợp lí, miễn là nó mang lại niềm vui cho số đông.

Để bảo vệ bản thân khỏi sự kỳ thị hoặc đàn áp ở thí nghiệm tưởng tượng của chúng tôi, chúng tôi ủng hộ quyền tự do phổ quát cơ bản, chẳng hạn như quyền tự do ngôn luận và tôn giáo.

Chúng ta cũng sẽ loại bỏ Chủ nghĩa cá nhân trong trường hợp này. Bởi vì nỗi sợ có thể chúng ta đang là một người ăn xin vạ vật trên vỉa hè đường phố, trong khi xã hội đầy ắp tự do cá nhân không ràng buộc bất kỳ ai chăm sóc cho chúng ta sẽ lớn hơn nhiều hi vọng chúng ta có thể là tỷ phú như Bill Gates.

Thay vào đó, chúng ta có xu hướng ủng hộ sự phân phối bình đẳng về thu nhập và sự thịnh vượng với một giới hạn: nếu sự bất bình đẳng mang lại lợi ích cộng đồng, nó cũng nên được phép tồn tại. Ví dụ, chuyện một bác sĩ kiếm nhiều tiền hơn một tài xế xe buýt là hợp lí. Ngay cả gia tài đồ sộ tỷ đô của Bill Gates cũng hợp lí với hoạch định này bằng cách như tích hợp nó vào hệ thống thuế lũy tiến, nơi tiền thuế ấy chi trả cho các chương trình y tế, giáo dục và phúc lợi cho người khác.

Rawls II: Công lý có nghĩa là không thể để cơ hội và sự thịnh vượng phụ thuộc vào tính ngẫu nhiên.

Cốt lõi của thuyết công lý John Rawls tạo nên một cuộc tranh luận rằng sự phân phối thu nhập và cơ hội không thể được hoàn toàn dựa vào các yếu tố ngẫu nhiên.

Hãy chiêm ngưỡng hình ảnh của một cuộc chạy đua để minh họa cụ thể cho ý tưởng này.

Trong một hệ thống phong kiến hay phân tầng giai cấp, chỉ có quý tộc có thể tham gia vào cuộc đua ngựa, trong khi mọi người khác đều không được phép. Hiệu suất, tài năng, khả năng và tham vọng không là gì, yếu tố duy nhất quyết định là sự may mắn ngẫu nhiên đã được sinh ra trong một gia đình quý tộc.

Trong khi đó, một nền kinh tế thị trường tự do, được chủ nghĩa tự do hết sức đồng thuận, lại có vài tiến bộ: tất cả mọi người được phép tham gia vào cuộc đua, mặc dù những tay đua từ những gia đình giàu có nhận được một nền giáo dục tốt có lợi thế cạnh tranh hơn hẳn trong khi những người không được đi học, chịu thiệt thòi trong xã hội không có đặc quyền này.

Ngược lại, một chế độ nhân tài công bằng có thể đưa ra những tiến bộ khác: ví dụ, nó mở ra cơ hội giáo dục cho tất cả mọi người, khiến cho các tay đua từ những gia đình khó khăn hơn dù ít được đào tạo hơn và thiết bị kém chất lượng hơn, vẫn xuất phát cùng vạch với những người khác.

Dù một hệ thống công bằng đến mức quyết liệt được đưa ra bởi chế độ nhân tài, chúng ta vẫn có thể tự tin dự đoán ai sẽ giành chiến thắng: Tay đua nhanh nhất – người giỏi nhất – người có kĩ năng nhất. Những yếu tố khiến cho họ chiến thắng là tài năng, may mắn, hay ngày đua tưởng như thuộc về họ, nhưng thực ra lại phụ thuộc vào sự ngẫu nhiên. Giống như trong rất nhiều người, họ ngẫu nhiên được trời phú khả năng đua ngựa giỏi, ngày hôm ấy ngẫu nhiên phong độ của họ tốt. Điều này giống như việc ai đó ngẫu nhiên được sinh ra trong một gia đình quý tộc hay giàu có vậy.

Nếu như vậy, chúng ta đơn giản chỉ cần bỏ qua và không tính đến cuộc đua ngựa này nữa? Hay chúng ta cho những tay đua nhanh nhất đeo chì vào chân để giảm tốc độ của họ?

Không nên chút nào! Rawls đưa ra một giải pháp thay thế có thể cải thiện sự bất bình đẳng phân bổ nhân tài mà không hạn chế năng lực của các cá thể tài năng nhất. Ông gọi giải pháp này là nguyên tắc khác biệt. Điều này nghĩa là người chạy được khích lệ, động viên và tạo điều kiện để thể hiện xuất sắc nhất khả năng của mình, nhưng họ phải chia sẻ phần thưởng chiến thắng với những người không được ưu tiên về mặt năng lực như họ.

Aristotle: Để biết những gì là đúng, chúng ta phải biết mục tiêu và mục đích của nó.

Công lý được triết gia Hy Lạp Aristotle định nghĩa là mục tiêu cao nhất chúng ta có thể phấn đấu tới: “Dù là sao hôm hay sao mai cũng không quá tỏa sáng”.

Nhưng làm thế nào chúng ta có được một mục tiêu tốt và xứng đáng?

Aristotle tin rằng không có triết lí nào chỉ ra được những điều phải trái đúng sai là vĩnh viễn. Thay vào đó, ông cho rằng chúng ta nên tiếp cận những câu hỏi cụ thể về mục đích luận (teleologically) của công lý (tiếng Hy Lạp: Telos – “mục đích” hay “nhắm”). Điều đó có nghĩa là trước khi chúng ta đánh giá liệu một cái gì đó là đúng hay sai, chúng ta phải đặt câu hỏi về mục đích đằng sau của một vấn đề đạo đức.

Bạn nghĩ Aristotles sẽ phán xét như thế nào về trường hợp “cổ động viên đặc biệt”?

Callie là một cổ động viên đặc biệt. Không may phải ngồi xe lăn, Callie vẫn là một cổ động viên được yêu thích bởi năng lượng và sự vui vẻ lan toả đến mọi người. Nhưng một ngày cô bị đoàn cổ động loại bỏ tư cách thành viên. Vì sao ư? Yêu cầu là tất cả thành viên đội cổ vũ đều phải thực hiện các động tác aerobic – và Callie đương nhiên không thể vì sự khuyết tật của mình.

Hầu hết chúng ta đều có chung ý kiến: loại trừ Callie ra khỏi đội cổ vũ là không công bằng. Dù cô không thể thực hiện các động tác cổ vũ khó nhằn, nhưng cô vẫn thực hiện tốt nhiệm vụ của mình dưới cương vị một cổ động viên.

Aristotle sẽ không quan tâm đến việc ủng hộ hay phản đối quyết định đó, ông thúc đẩy mọi người tập trung quan sát vấn đề ở một khía cạnh sâu sắc hơn: Vậy mục đích luận quan trọng nhất của đội cổ vũ là gì? Là mang đến không khí vui vẻ sôi động đến toàn bộ khán đài? Là thừa nhận những giá trị cụ thể như tinh thần đồng đội? Hay nó xoay quanh những khả năng như tính tổ chức, sự đồng bộ và yêu cầu thể lực?

Chúng ta chỉ có thể đánh giá những gì công bằng và bất công trong trường hợp này khi chúng ta trả lời những câu hỏi đó rõ ràng và không thiên vị.

Công lý được xây dựng trên nền chính trị của lợi ích chung.

Có bất công không khi các cặp vợ chồng đồng tính đều bị cấm kết hôn?

Aristotle chỉ cho chúng ta cách trả lời tốt nhất câu hỏi trên là đầu tiên, hãy xem xét mục đích luận cơ bản (telos) của hôn nhân khi nó là một tổ chức được xã hội công nhận.

Mục đích của hôn nhân là sinh sản để duy trì nòi giống hay là một cam kết độc quyền khẳng định sự kết nối và yêu thương giữa hai người?

Tuy nhiên, phương pháp này vẫn còn một vấn đề: ngay cả nếu chúng ta thuyết phục mục đích hôn nhân là để bảo đảm các cam kết giữa hai người không phân biệt giới tính của họ, nó tương quan với quan điểm luân lí của chúng ta: ta tin tưởng rằng mối quan hệ đồng giới công bằng và xứng đáng như mối quan hệ khác giới.

Vậy thì những người đứng trên lập trường luân lí khác và không tin rằng mối quan hệ đồng giới là công bằng và giống với mối quan hệ khác giới thì sao?

Cuối cùng, câu hỏi về công lý luôn là câu hỏi về đạo đức, các chuẩn mực đánh giá và những ý tưởng cá nhân của một “đời sống đạo đức”. Bởi vì luôn có niềm tin trái ngược nhau về làm thế nào để sống đức hạnh trong một xã hội đa nguyên, dân chủ, việc tìm thấy một câu trả lời phổ quát duy nhất là điều không thể.

Làm thế nào chúng ta có thể đối phó với những khác biệt trong quan điểm? Và chúng ta có thể làm gì để giảm thiểu tình trạng đánh giá mọi thứ dựa trên định kiến và nỗi sợ hãi?

Câu trả lời là: nền chính trị mang tính lợi ích chung, được thiết lập để mang lại một đời sống phong phú hơn về mặt trí tuệ, đạo đức và tinh thần, có thể giải quyết vấn đề đó. Nền chính trị ấy phải luôn nỗ lực để giúp người dân hiểu rõ hơn về sự cam kết cho lợi ích chung; nó phải bảo vệ các quan niệm xã hội từ suy nghĩ có tính định hướng thị trường như giảng dạy, học tập và chế độ nhập cư; nó phải kìm hãm sự bất bình đẳng tài chính trong phạm vi giới hạn và đánh thuế người giàu ở mức cao hơn; và cuối cùng, nó phải chuyển trọng tâm của công chúng đối về các vấn đề đạo đức khó khăn và tranh luận theo cách có giáo dục và không thiên vị.

Tổng kết

Thông điệp chính của cuốn sách là:

Con người đã suy nghĩ về câu hỏi của công lý trong hàng thiên niên kỷ, và câu trả lời đa dạng không kém dựa trên những triết gia đưa nhận định về nó. Nguyên nhân? Ý nghĩa của công lý vượt lên trên những sự phán xét sai đúng. Khi nói về công lý, chúng ta phải xét đến ý nghĩa cuộc sống chúng ta theo đuổi, những giá trị chúng ta gán cho tự do và nhận định những phẩm chất nào có giá trị hơn phẩm chất nào.

Câu hỏi

Cuốn sách này đã trả lời các câu hỏi sau:

Thế nào là công lý và làm thế nào chúng ta tạo ra đạo đức?

  • Sự hiểu biết về công lý là chủ quan và thay đổi liên tục;
  • Chúng ta có thể làm bản thân phán đoán sâu sắc và chính xác hơn khi tiếp cận và tìm hiểu nhiều điểm nhìn đạo đức và các triết lí về công lý khác nhau.

Các nhà triết học vĩ đại nói gì về công lý và đạo đức?

  • Thuyết vị lợi: Hành động là chỉ khi họ thúc đẩy hạnh phúc tập thể.
  • Chủ nghĩa tự do: Tư pháp có nghĩa là có thể sống và hành động theo cách bạn muốn, miễn là bạn thấy phù hợp.
  • Kant I: Chúng ta phải làm điều đúng với lý do hành động đúng.
  • Kant II: Hành động công lý là hành động theo tính mệnh lệnh tuyệt đối – chỉ nên hành động khi nó theo nguyên tắc mà tất cả mọi người đều cho là đúng.
  • Rawls tôi: Chỉ khi chúng ta được đặt sau một tấm màn vô minh và không biết mình sẽ được đặt vị trí nào, lúc đó ta mới biết thế nào là công bằng.
  • Rawls II: Công lý nghĩa là không để cơ hội và sự giàu có dựa vào các yếu tố ngẫu nhiên.
  • Aristotle: Để biết những gì là đúng, chúng ta phải biết mục tiêu và mục đích của nó.

Chúng ta có thể đạt đến sự đồng thuận nào từ những quan điểm khác nhau này?

  • Tư pháp được xây dựng trên một nền chính trị của lợi ích chung.