Sáng Tạo

Amazon.com: Creativity: Flow and the Psychology of Discovery and ...

Creativity, Mihaly Csikszentmihalyi

Sáng tạo (Creativity) tổng hợp các nghiên cứu của tác giả về cách những con người sáng tạo sản sinh những ý tưởng táo bạo. Cuốn sách chỉ ra nét tương đồng giữa sự sáng tạo và cuộc đời của họ, đồng thời giải thích làm thế nào mà họ có thể đưa ra những ý tưởng độc đáo như vậy.

Ai nên đọc cuốn sách này?

  • Nghệ sĩ, nhà văn và nhà khoa học đang khám phá tính sáng tạo của nhân loại.
  • Những người sáng tạo muốn làm theo ý của chính mình.
  • Tất cả những ai đang tìm cảm hứng sáng tạo cho bản thân.

Ai viết cuốn sách này?

Mihaly Csikszentmihalyi là giáo sư tâm lý học và quản lý tại Trường Quản lý Drucker, Đại học Claremont Graduate tại Claremont, California. Không chỉ là tác giả của một vài cuốn sách như Trên cả sự nhàm chán và nỗi lo lắng, Tự phát triểnThuyết Dòng chảy, ông còn viết báo cho tờ Psychology Today, The New York Times Washington Post.

Cuốn sách này nói gì? Đào sâu vào cách tăng luồng sáng tạo của riêng bạn.

Đã bao giờ những ý tưởng và giải pháp cứ thế tuôn trào trong tâm trí bạn, khi mà tất cả hành động của bạn diễn ra thật tự nhiên và hoàn hảo? Đó chính là dòng chảy sáng tạo, trạng thái mà hầu hết những người sáng tạo đều cảm thấy khi họ làm công việc mình tốt nhất.

Có thể bạn biết cảm giác sáng tạo là như thế nào, tuy nhiên, để giải thích sự sáng tạo cũng như nguồn gốc của nó thì đó lại hoàn toàn là một thử thách khác.

Bản tóm tắt này sẽ cho bạn thấy những môi trường cần thiết để kích thích việc tạo ra ý tưởng và khái niệm mới thông qua các khám phá về cuộc sống và công việc của những người sáng tạo đương thời. Bạn cũng sẽ hiểu vì sao sự sống của nhân loại lại phụ thuộc vào sự sáng tạo, đồng thời biết được những gì bạn có thể làm hàng ngày để cải thiện dòng chảy sáng tạo của bản thân mình. 

Qua bản tóm tắt, bạn sẽ được tìm hiểu:

  • Tại sao thành phố Florence lại là nơi tập trung sôi nổi của những hoạt động sáng tạo vào những năm 1400;
  • Tại sao hầu hết tài năng sáng tạo mà người lớn có được không phải là do bẩm sinh;
  • Tại sao chiếc bàn ăn của bạn lại là nơi lý tưởng để khơi nguồn sáng tạo.

Sự sáng tạo là một hệ thống gồm ba thành phần hài hòa: lĩnh vực, nhóm người đầu ngành và cá nhân sáng tạo.

Chúng ta gọi quá trình mà con người nghĩ ra một ý tưởng cách tân là sự sáng tạo. Nhưng thực chất cái gì mới là nguồn gốc của nó?

Một số người tin rằng sự sáng tạo nảy sinh trong mỗi người một cách kỳ diệu, nhưng nó chắc chắn còn phức tạp hơn thế. Chúng ta chủ yếu nhận được tính sáng tạo từ môi trường xung quanh.

Hãy thử nghĩ xem: nếu như sự sáng tạo chỉ đến một cách đột ngột, bất ngờ thì tại sao thành phố Florence lại là nơi hội tụ sức sáng tạo vượt trội vào năm 1400? 

Không phải ngẫu nhiên mà trong giai đoạn 1400-1425, Florence trở thành tiêu điểm của nền Phục Hưng Ý. Thành phố phát triển mạnh mẽ về mặt tài chính hơn bao giờ hết; những nhà lãnh đạo khuyến khích các nghệ sĩ không ngừng khám phá, kiến tạo nên những công trình tuyệt vời. 

Một số kiệt tác nghệ thuật tiêu biểu của nền văn minh phương Tây đã ra đời vào thời điểm này, ví dụ như cánh cửa bằng đồng tại Florence Baptistry của tác giả Lorenzo Ghiberti, hay mái vòm khổng lồ của Nhà thờ Florence thiết kế bởi Filippo Brunelleschi.

Thời đại Phục Hưng đã góp phần làm sáng tỏ bản chất của sự sáng tạo, theo đó, sáng tạo cơ bản diễn ra theo một hệ thống bao gồm lĩnh vực, người đầu ngànhcá nhân sáng tạo.

Lĩnh vực (domain), nơi tính sáng tạo xuất hiện, là một phạm trù rộng như toán học hoặc âm nhạc.

Hẹp hơn lĩnh vực là người đầu ngành (field) gồm những cá thể chuyên về một lĩnh vực nhất định. Họ đóng vai trò như người gác cổng cho các lĩnh vực, quyết định ý tưởng mới nào nên hoặc không nên được lưu giữ và truyền bá trong lĩnh vực.

Ví dụ, trong lĩnh vực nghệ thuật thị giác, người đầu ngành có thể là giáo viên mỹ thuật, phụ trách bảo tàng hoặc các cơ quan văn hóa điều hành bởi chính phủ.

Cá nhân sáng tạo (individual) là thành phần cuối cùng trong hệ thống. Theo đó, sự sáng tạo chỉ xảy ra khi một cá thể sử dụng công cụ của lĩnh vực (ví dụ như công thức toán học hay hệ thống âm thứ) để tạo ra thứ gì đó mới lạ (như một học thuyết hoặc một bản nhạc), và sản phẩm mới đó được chấp nhận bởi những người gác cổng của lĩnh vực.

Những người sáng tạo thường có tính cách phức tạp.

Điều gì làm một người trở nên sáng tạo? Không có một câu trả lời đơn giản nào cho câu hỏi này, tuy nhiên, một số nét tính cách nhất định có thể sẽ giúp con người sáng tạo hơn. 

Một vài người thừa hưởng gen di truyền hoặc có năng khiếu tự nhiên về một lĩnh vực nào đó khiến họ hứng thú với nó ngay từ khi còn rất trẻ; và điều này rất quan trọng đối với sự sáng tạo. Ví dụ, một người đặc biệt nhạy cảm với màu sắc và ánh sáng có xu hướng theo ngành hội họa.

Sớm tiếp cận với lĩnh vực đôi khi cũng là điều may mắn. Những người sinh ra trong gia đình giàu có, được hưởng nền giáo dục tốt và được học hỏi từ những người giỏi giang khác thường có lợi thế.

Tuy nhiên, việc thuyết phục nhóm người trong ngành cũng quan trọng không kém. Kể cả khi một người sáng tạo ra được điều gì mới lạ, tác phẩm của anh ta vẫn khó có thể nhận được sự công nhận rộng rãi nếu như anh ta thiếu sự ủng hộ từ nhóm người cùng ngành. Đó cũng là lý do vì sao tên tuổi nhà soạn nhạc Johann Sebastian Bach chỉ được biết đến khi nhà soạn nhạc Felix Mendelssohn phát hiện ra những bản nhạc của ông và quảng bá nó – nhiều thập kỷ sau khi Bach ra đi.

Những người sáng tạo thường thông minh nhưng cũng rất ngây thơ. Nhà soạn nhạc Wolfgang Amadeus Mozart là một thiên tài âm nhạc, tuy nhiên ông có bản tính ham chơi như trẻ con. Ngoài ra tính cách của họ thường vừa hướng nội vừa hướng ngoại. Có thể họ cần thời gian một mình để tạo nên những kiệt tác nhưng họ vẫn khát khao chia sẻ những ý tưởng của mình với thế giới. 

Quá trình đưa đến những giải pháp đổi mới luôn có sự thống nhất mạch lạc chung.

Sáng tạo là một quá trình phức tạp. Cách mà một nhà khoa học đưa ra những khám phá xuất sắc chắc chắn sẽ khác với cách mà một người nghệ sĩ tạo ra kiệt tác. Mặc dù quá trình này không có một khuôn mẫu chung nào cả, nhưng chúng thống thất với nhau và có thể được mô tả qua năm bước.

Bước đầu tiên là chuẩn bị. Khi đó, những người sáng tạo chỉ tập trung vào một vấn đề hay ý tưởng. 

Sau đó là bước định hình: những ý tưởng phát triển một cách hoàn toàn tự nhiên. 

Bước thứ ba là thấu hiểu, hay chính là khoảnh khắc “aha”, lúc mà ý tưởng mới đã xuất hiện.

Tiếp theo đó, quá trình sẽ bước đến giai đoạn đánh giá, lúc này họ phải quyết định xem ý tưởng đã tìm ra có đáng để theo đuổi hay không. 

Và cuối cùng là thử nghiệm chi tiết: đưa những ý tưởng đi vào thực nghiệm. Có thể không nhất thiết phải thực hiện chính xác cả năm bước trên để đi đến những điều mới lạ nhưng thường thì các ý tưởng sáng tạo đột phá được đúc kết thông qua các bước đó.

Lĩnh vực, những người đầu ngành và kinh nghiệm riêng của mỗi cá nhân chính là yếu tố quan trọng để tạo ra các ý tưởng đổi mới.

Các nghệ sĩ tạo hình và nhà văn thường có được tính sáng tạo qua kinh nghiệm bản thân: từ cảm xúc như tình yêu hay nỗi lo lắng, đến các cột mốc trong cuộc đời. Những nhà thơ như Anthony Hecht và Hilde Domin cũng thường viết lại những kinh nghiệm hàng ngày của mình để tạo nguồn cảm hứng. 

Lĩnh vực chính là nguồn sản sinh năng lượng sáng tạo. Những người sáng tạo thường nảy ra ý nghĩ mới khi họ bất đồng quan điểm với các lý thuyết hiện hành trong lĩnh vực của mình và tìm cách phản biện nó.

Những người đầu ngành cũng góp phần khơi gợi cảm hứng. Giáo viên, bạn học, đồng nghiệp và cố vấn đều tác động đáng kể đến suy nghĩ của những người sáng tạo. Ví dụ như các nhà khoa học không chỉ học kiến thức trong sách mà nhận được nguồn cảm hứng qua các cuộc hội thảo, cuộc họp và workshop.

Khi đang ở trong mạch sáng tạo, mục tiêu trở nên rõ ràng hơn và lúc đó thời gian như dừng lại.

Điều gì thúc đẩy người sáng tạo tiếp tục làm việc? Từ các cuộc phỏng vấn với những nhà văn, nhạc sĩ hay nhà khoa học, tác giả đã nhận thấy hầu hết họ đều làm những công việc sáng tạo vì họ thực sự yêu thích nó. Niềm vui mà họ tìm thấy khi làm việc chính là được nằm trong mạch sáng tạo. Tác giả đã chỉ ra 9 yếu tố trong trải nghiệm này và bây giờ chúng ta sẽ đi sâu hơn vào ba trong số đó.

Thứ nhất, mạch sáng tạo có mục tiêu nhất định trong từng giai đoạn. Khi ở trong mạch đó, bạn biết những gì cần phải hoàn thành. Một nhạc sĩ biết các nốt nhạc sẽ chơi và một người leo núi biết những bước phải đi, hầu hết không cần phải suy nghĩ. Tương tự như thế, một nhà khoa học có nhiều cống hiến đã tự vạch ra những mục tiêu rõ ràng trong việc giải quyết một số vấn đề nhất định. Cô ấy biết khoảng trống trong kiến thức của bản thân và muốn thu hẹp chúng.

Thứ hai, một người sáng tạo có thể tự đánh giá những hành động của mình và họ biết cách để làm được điều đó tốt nhất. Nhà khoa học Linus Pauling, người thắng giải Nobel Hóa học, đã nói rằng sự khác nhau giữa sáng tạo một cách hiệu quả và không hiệu quả là khả năng tự đánh giá ý tưởng và cách mà bạn có thể phân biệt những cái tốt và xấu.

Thứ ba, mạch sáng tạo khiến bạn quên đi thời gian. Một tiếng cho việc tập luyện vĩ cầm chỉ như năm phút đối với một nghệ sĩ đang trong mạch cảm hứng. 

Những nhân tố xung quanh có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến sản phẩm sáng tạo.

Sáng tạo ở đúng nơi, vào đúng thời điểm có thể tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, đó là cả một thách thức.

Bối cảnh xã hội, văn hóa, chính trị đều đóng một vai trò nhất định trong những ý tưởng sáng tạo của một người. Vì vậy, việc người sáng tạo thường chuyển đến sống ở các trung tâm thông tin trong lĩnh vực của họ là hoàn toàn hợp lý. New York là một địa điểm lý tưởng cho những nghệ sĩ đầy tham vọng vì đây là nơi họ có thể theo dõi các xu hướng và sự kiện một cách tối ưu nhất. 

Tương tự như vậy, các nhà khoa học thường bị thu hút bởi các viện nghiên cứu, nơi mà họ có thể làm việc với những bộ óc tuyệt vời trong cùng lĩnh vực. Các viện nghiên cứu như Bell Laboratories cung cấp một địa điểm hoàn hảo cho những nhà lý thuyết và nhà thực nghiệm làm việc cùng nhau; văn phòng được bố trí gần nhau khiến việc chia sẻ các ý tưởng trở nên dễ dàng hơn.

Một người cũng có thể sáng tạo hơn khi môi trường sống của anh ấy tràn đầy cảm hứng. Rất nhiều nền văn hóa ngay từ thời cổ đại đã tin rằng môi trường sống có ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ của bạn. Ví dụ như các bậc hiền nhân Trung Quốc viết thơ trong túp lều trên đảo nhỏ, những người Bà La Mã Hindu đi lang thang trong rừng tìm kiếm thần linh; tu sĩ Cơ đốc giáo chọn chốn thiên nhiên thanh cao để xây dựng các tu viện.

Khi nhà soạn nhạc Franz Liszt thăm một ngôi làng ở Bellagio, Hồ Como, ông viết, “Tôi cảm thấy vạn vật tự nhiên xung quanh… đã khơi dậy những cảm xúc sâu thẳm trong tâm hồn tôi, và tôi đã cố gắng diễn tả nó qua âm nhạc”. Một môi trường mới chắc chắn khơi gợi cảm hứng cho những ý tưởng mới lạ.

Tuy nhiên, tiếp cận môi trường mới không phải lúc nào cũng có ích đối với quá trình sáng tạo. Có những bước sáng tạo khác, như chuẩn bị và đánh giá, thường có hiệu quả hơn trong điều kiện quen thuộc và thoải mái.

Có thể đó là lý do tại sao mà nhà soạn nhạc Johann Sebastian Bach không bao giờ đi xa quê hương Thuringia, Đức. Ngay cả Albert Einstein cũng đưa ra thuyết tương đối khi đang ngồi ở bàn ăn nhà mình.

Cổ tích về những thần đồng cũng chỉ mang tính hư cấu, không phải mọi thiên tài sáng tạo đều do bẩm sinh.

Mọi người thường cho rằng những người sáng tạo có tài năng thiên bẩm. Câu chuyện về họa sĩ thời Phục Hưng Ý Giotto có thể vẽ một đường tròn hoàn hảo bằng tay không khi còn rất trẻ chỉ là một ví dụ cho việc xã hội luôn mong chờ những thiên tài bẩm sinh.

Có thể công nhận rằng nhiều người sáng tạo thể hiện tài năng từ rất sớm, như nhà soạn nhạc Wolfgang Amadeus Mozart, người có những kỹ năng âm nhạc đặc biệt khi còn rất nhỏ. Tuy nhiên, không phải tất cả những thiên tài đều là thần đồng.

Rất nhiều câu chuyện về thần đồng thực tế chỉ là thần thoại. Nguồn gốc của câu chuyện về Giotto chỉ là một câu chuyện cổ tích cùng với lời giới thiệu như “Không ai biết gì về tuổi thơ của ông ta – chỉ là một huyền thoại”.

Nhiều thiên tài chắc chắn không biết các dấu hiệu tài năng bất thường của mình xuất hiện từ bao giờ. Albert Einstein và Charles Darwin không phải là thần đồng. Kỹ năng chính trị của Winston Churchill chỉ bộc lộ rõ khi ông ở tuổi trung niên. Nhà văn Leo Tolstoy, Franz Kafka và Marcel Proust đã từng thất bại trong việc gây ấn tượng với các cố vấn của họ khi còn trẻ. Tóm lại, khi nhìn lại thời thơ ấu của những người sáng tạo, rất khó để phát hiện ra những người sáng tạo từ bé.

Tuy nhiên, một trong số ít mô hình cho thấy việc học hành dường như cũng chỉ có những ảnh hưởng nhỏ đến cuộc sống của một người sáng tạo. Trong nghiên cứu của mình, tác giả cũng rất bất ngờ khi phát hiện ra rất ít người sáng tạo mô tả các mối quan hệ đặc biệt với giáo viên hoặc trích dẫn trường học như một nguồn cảm hứng.

Nhà sinh vật học lỗi lạc George Klein nói rằng ngoại trừ một số người thì tất cả các giáo sư của ông đều rất tầm thường. Khi còn là thiếu niên, ông học được các kiến thức về triết học và văn học từ bạn bè nhiều hơn là từ lớp học. Những người sáng tạo xuất chúng khác, như nhà bác học Albert Einstein, hoạ sĩ Pablo Picasso và nhà văn T.S. Eliot, cũng nói rằng khoảng thời gian ở trường chỉ đóng góp một phần rất nhỏ vào những thành tựu của họ.

Thường thì những người sáng tạo sẽ tự xây dựng con đường sự nghiệp cho bản thân.

Kinh nghiệm của một người khi bắt đầu trưởng thành thường có ảnh hưởng lớn đến cuộc đời của họ sau này. Điều đó cũng đúng đối với những người sáng tạo.

Đây là lý do vì sao mà trong và sau đại học là thời điểm quan trọng trong cuộc đời của một người sáng tạo. Họ thường không sống ở tỉnh lẻ chật hẹp. Với một số người, đại học có thể là khoảng thời gian đầu tiên mà họ có những cố vấn và bạn học đánh giá cao họ.

Người sáng tạo cũng thường thấy đam mê của mình trong trường đại học. Ví dụ, nhà thơ Mỹ Anthony Hecht yêu thích toán và âm nhạc khi còn trẻ nhưng khám phá ra niềm yêu thích văn học khi học đại học và sau đó quyết định trở thành một nhà thơ.

Trường đại học cũng tạo điều kiện cho rất nhiều người trở nên tự lập hơn, đó là điều đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy tính sáng tạo. David Riesman, nhà khoa học xã hội người Mỹ nổi tiếng, cuối cùng cũng có thể học luật thay vì dược như ý muốn của gia đình khi vào đại học.

Và sau đại học, những người sáng tạo thường không làm các nghề nghiệp truyền thống. Hầu hết các sinh viên tốt nghiệp đều tìm được một công việc ngay sau đại học và làm việc ở đó một thời gian cho đến khi họ thăng tiến lên các chức vụ cao hơn trong công ty. Người sáng tạo, trái lại, thường phải tạo ra con đường sự nghiệp cho bản thân và thậm chí cả một nghề mới cho họ. Ví dụ, không có nhà phân tích tâm lý nào trước Sigmund Freud hay không có bất kỳ một thợ điện nào trước Thomas Edison!

Vậy người sáng tạo không chỉ phát triển những cách suy nghĩ mới, họ còn là những học viên đầu tiên của lĩnh vực mới mà họ tạo ra. Họ mở đường cho những người khác đi theo.

Tính sáng tạo không hề giảm theo tuổi; trên thực tế, những người sáng tạo cao tuổi thường có nhiều năng lượng hơn.

Mối quan hệ giữa tuổi tác và sự sáng tạo là gì? Các nghiên cứu đã cho rằng đỉnh cao của tính sáng tạo là khi một người vào khoảng 30 tuổi và những người hơn 60 tuổi hiếm khi tạo ra những tác phẩm mới lạ.

Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy điều ngược lại. Chúng chỉ ra rằng tính sáng tạo của một người không bị giảm đi theo độ tuổi.

Trên thực tế, rất nhiều người cho rằng khả năng tinh thần của họ không bị giảm theo độ tuổi. Khi về già, họ có thể than thở rằng năng lượng của họ giảm đi, nhưng điều đó khác với việc tinh thần làm việc yếu đi.

Heinz Maier-Leibnitz, một nhà vật lý lỗi lạc, ở độ tuổi 80 đã nói rằng khát khao làm việc của ông đã tăng lên khi ông lớn tuổi hơn, nhưng năng lượng đã không còn theo kịp những gì mà ông muốn làm.

Rất nhiều cá nhân sáng tạo nói rằng nhiệt huyết của họ vẫn giữ nguyên hoặc thậm chí còn tăng lên khi họ lớn tuổi hơn. Thời gian trôi qua, họ tích lũy nhiều kinh nghiệm hơn và hiểu thế giới hơn, vì vậy họ có thể càng ngày càng giỏi trong công việc mà họ làm.

Isabella Karle, nhà tinh thể học, ở độ tuổi 90 tin rằng những kinh nghiệm sống đã làm sâu sắc thêm vốn kiến thức của bà và cho phép bà có thể nghĩ được những thứ phức tạp hơn. Nhà vật lý Linus Pauling đã xuất bản được nhiều sách nhất vào độ tuổi giữa 70 và 90.

Nhiều người sáng tạo lớn tuổi mà tác giả phỏng vấn vẫn còn rất nhiệt tình với công việc của mình và mô tả dự án hiện tại một cách rất chi tiết. Họ khám phá thêm được nhiều thứ trên thế giới và hứng thú vào các ngành khác như chính trị, phúc lợi con người hay những nghiên cứu về môi trường, để làm sâu sắc thêm công việc của họ.

Không một người sáng tạo nào sợ cái chết, họ vẫn tiếp tục làm những gì mà họ yêu thích.

Sự sống của chúng ta phụ thuộc vào sự sáng tạo, và chúng ta cần phải từng bước nuôi dưỡng nó. 

Có rất nhiều vấn đề thế giới đang phải đối mặt: bùng nổ dân số, cạn kiệt nguồn tài nguyên hay sự nóng lên toàn cầu chỉ là một vài ví dụ. Tương lai của chúng ta phụ thuộc vào sự phát triển của các giải pháp đổi mới.

Trực tiếp hơn, điều này có nghĩa là sự tồn tại của chúng ta phụ thuộc vào sự sáng tạo.

Mặc dù cấu trúc di truyền của con người vẫn như cũ nhưng xã hội đã thay đổi đáng kể qua nhiều thế kỉ. Sự thay đổi văn hóa qua các trào lưu xác định những gì chúng ta biết, những gì chúng ta tin tưởng và những gì chúng ta làm.

Trào lưu không xuất phát từ những ảnh hưởng bên ngoài như thiên địch hay biến đổi khí hậu. Là con người chúng ta tự tạo ra chúng và như vậy, trào lưu có một ảnh hưởng lớn đến tương lai. Quan trọng nhất, cần phải đảm bảo rằng chúng ta được dẫn dắt bởi các trào lưu đúng đắn và nó phải có tác dụng thúc đẩy sự sáng tạo trong tương lai.

Có rất nhiều cách để khuyến khích sự sáng tạo trong xã hội. Chúng ta cần giúp cho trẻ em có được sự tiếp cận sớm nhất với càng nhiều lĩnh vực càng tốt qua các tài liệu giáo dục, như vậy chúng có thể có nhiều cơ hội để khám phá niềm đam mê của mình sớm hơn. 

Quan trọng hơn, chúng ta cần những tài liệu lĩnh vực mà bất kỳ người nào cũng có thể hiểu được, như vậy sẽ không làm nản chí những người yêu thích nhưng có thể chưa có kỹ năng. Các lĩnh vực khó tiếp cận có ít người trẻ tuổi cố gắng tham gia và điều này cản trở sự sáng tạo. Việc truyền đạt rõ ràng và minh bạch trong tất cả các lĩnh vực là rất quan trọng. 

Vận dụng sự sáng tạo của bạn hàng ngày bằng việc dành thời gian để dừng lại và quan sát thế giới xung quanh.

Vậy chúng ta học được điều gì từ cuộc sống của những người sáng tạo? Hãy rút ra một vài lời khuyên thiết thực từ thông tin mà chúng ta đã được cung cấp cho đến thời điểm này.

Bước đầu tiên để trở nên sáng tạo hơn là nuôi dưỡng sự tò mò. Thông thường chúng ta mất đi khả năng tự hỏi khi lớn lên vì cuộc sống đã trở thành những thói quen. Những người sáng tạo, mặt khác, vẫn luôn tò mò dù đã đến chặng cuối của cuộc đời, thậm chí khi đã ngấp nghé độ tuổi 90!

Vì vậy, hãy cứ tò mò! Cố gắng tìm ra thứ gì đó làm bạn ngạc nhiên mỗi ngày. Hãy dừng lại một chút và thử một món ăn mới trong nhà hàng. Bạn có thể tìm thấy những điều mới để học hỏi; nó không cần phải là thứ gì đó thật lớn lao. Vạn vật đều ẩn chứa trong nó sức hấp dẫn, lôi cuốn đến lạ lùng.

Khi có thứ gì đó thu hút sự quan tâm của bạn, như một bài hát hay một loài hoa, chúng ta thường nghĩ về chúng chỉ trong giây lát. Nhưng nỗ lực thực sự để học hỏi là một phần quan trọng của quá trình sáng tạo. Vì vậy, đừng để những điều mình thích thú lắng xuống dần – đừng để nó biến mất! Bạn không thể nào biết được những niềm hứng thú mới có thể dẫn bạn đến miền đất kì diệu nào.

Một khi bạn đã đánh thức tính sáng tạo của bản thân, việc bảo vệ nó khỏi sự phân tâm cũng rất quan trọng. Người sáng tạo phát triển các thói quen giúp họ tập trung vào mục tiêu và tránh những thứ kìm hãm họ lại.

Hãy cố gắng làm chủ kế hoạch của bản thân. Những gì bạn làm trong ngày chưa chắc đã hỗ trợ những mục tiêu của bạn. Hãy tìm ra khoảng thời gian mà bạn làm việc hiệu quả nhất: sáng sớm hay tối muộn? Hãy cho bản thân thời gian để tập trung khi bạn có nhiều năng lượng nhất để làm việc.

Hãy làm những thứ bạn có thể để nuôi dưỡng và phát triển cách nghĩ riêng độc đáo của chính bạn, để sự sáng tạo trở thành một cách sống.

Tổng kết

Thông điệp chính của cuốn sách:

Sáng tạo dường như là một khái niệm khó nắm bắt, nhưng giống như một quy trình, nó có thể được chia thành các bước. Sự sáng tạo thường xảy ra theo hệ thống. Những người sáng tạo lấy cảm hứng từ cuộc sống; họ làm việc theo một “mạch” trạng thái và thậm chí có thể sáng tạo ngay cả khi về già. Quan trọng hơn, sự tồn tại của loài người phụ thuộc vào sự sáng tạo, nên chúng ta cần phải khuyến khích phát triển nó. Vì vậy, hãy làm việc để nuôi dưỡng sự sáng tạo mỗi ngày!

Lời khuyên hữu ích:

Nâng cao sự sáng tạo của bạn bằng cách cá nhân hóa không gian làm việc.

Tạo một không gian đáp ứng nhu cầu cụ thể của bạn. Trong đó loại không gian nào mà khi làm việc bạn thấy năng suất nhất? Hãy suy nghĩ về nó và thử nghiệm với các tình huống khác nhau, sau đó nỗ lực để xây dựng không gian sáng tạo hoàn hảo cho bản thân.

Gợi ý đọc thêm

Thuyết dòng chảy, Mihaly Csikszentmihalyi