Nước Giàu, Nước Nghèo

The Wealth and Poverty of Nations (1998), David Landes

Nội dung chính

Nước giàu, nước nghèo (The Wealth and Poverty of Nations) được viết năm 1998 là một trong những cuốn sách nổi tiếng nhất của David Landes bàn về một câu hỏi vô cùng nóng bỏng và gây tranh cãi thời hiện đại: Tại sao một vài quốc gia có những bước tiến đáng kể trong nền kinh tế trong khi số còn lại thì vẫn chật vật với đói nghèo? Câu trả lời được tác giả David Landes đưa ra là sự tác động lẫn nhau của các yếu tố văn hóa và lịch sử. Với những bằng chứng nhuốm màu thần thoại, những nhận định sắc bén và sự uyên bác đáng ngạc nhiên trong nhiều lĩnh vực, Nước giàu, nước nghèo được Kenneth Arrow ca ngợi là “một bức tranh toàn cảnh khổng lồ với ẩn ý xuất sắc” vì tham vọng đầy táo bạo của tác giả khi muốn thâu tóm lịch sử thế giới trong nhiều thập kỉ. 

Về tác giả

Là một trong những nhà sử học trước chiến tranh lỗi lạc nhất của Mĩ, Landes sinh năm 1924 và từng theo học tại City College, New York và sau đó là Havard University. Ông là giáo sư danh dự về lịch sử và kinh tế học tại nhiều trường đại học danh giá ở Mĩ và châu Âu.

Có gì trong bản tóm tắt này? Thành công thực sự chưa bao giờ đến từ vận may.

Trong quá trình tìm hiểu sự thành công, những người thực sự nhìn nhận được các bí quyết và quy cách của nó chắc hẳn sẽ bồi đắp cho mình những kinh nghiệm thực tiễn từ điểm nhìn đa chiều. Nếu những tác phẩm trước đó cung cấp điểm nhìn tổng quan trong một thế giới thống nhất, tác phẩm này sẽ chứng minh thành công tồn tại khác nhau trong từng quốc gia riêng lẻ. Phần tóm tắt của cuốn sách này dài hơn bình thường một chút, nhưng hi vọng rằng những gì bạn đọc nhận được sẽ xứng đáng với khoảng thời gian bỏ ra.

Những điều rút ra:

  • Có những đức tính nhất định khiến xã hội và quốc gia trở nên tuyệt vời.
  • Tiết kiệm và lao động chăm chỉ giúp các quốc gia thu về khối tài sản khổng lồ và trở nên giàu có.
  • Niềm tin vào tương lai giúp người dân vượt qua những khó khăn của đất nước dù cho ban đầu bị bỏ xa rất nhiều.
  • Một số thiếu sót, ví dụ như thiếu đi sự tích lũy kiến thức, sẽ hủy hoại những cộng đồng lớn mạnh.
  • Yếu tố tự nhiên như địa lí, tài nguyên và khí hậu, ảnh hưởng đến khả năng phát triển của các quốc gia.
  • Những quốc gia loại bỏ những người dám đấu tranh (ví dụ như Tây Ban Nha từng trục xuất những người Do thái trong Quan tòa Dị giáo) làm mất đi sự giàu có của chính mình.
  • Khi sự giàu lên nhanh chóng ảnh hưởng một cách tiêu cực, các quốc gia sẽ đối mặt với nguy cơ bị xâm lược.
  • Có thể phán đoán đặc trưng của một quốc gia bằng cách quan sát những điều được người dân tôn sùng hay ghét bỏ (ví dụ, ở Pháp người ta từng ngưỡng mộ những quý tộc giàu có ăn không ngồi rồi và khinh thường những nhà buôn/thương nhân; giờ đây nền văn hóa đã cởi mở hơn và chấp nhận họ).
  • Sự cởi mở với thương nghiệp và các ý tưởng từ nước ngoài giúp các quốc gia áp dụng những hình mẫu tốt hơn.

“Xã hội Mĩ với những tiểu chủ và công nhân được trả lương cao là hạt giống của nền dân chủ và hoạt động kinh doanh. Lòng tự trọng được xây dựng từ công bằng, tham vọng, sự sẵn sàng đặt chân và cạnh tranh trên thị trường, tinh thần của chủ nghĩa cá nhân và phản kháng.”

Châu Âu thời Trung cổ

Thế giới chưa bao giờ dễ dàng như một sân chơi, David Landes viết. Bà mẹ thiên nhiên đã ưu ái vùng đất khí hậu ôn hòa hơn miền nhiệt đới, với những lợi ích hơn cả như lượng mưa ổn định, đất đai màu mỡ, rừng cây gỗ lá rộng, lại có độ lạnh vừa phải, chưa kể đến những lợi thế đặc biệt cho chăn nuôi. Những đặc điểm đó làm xã hội ổn định hơn với nền kinh tế dễ tăng trưởng hơn, chính là nhân tố trọng yếu trong sự phát triển chậm rãi của châu Âu thời trung đại.

Hàng ngàn năm về trước, không ai ngờ đến sự vươn lên mạnh mẽ của châu Âu sau này. Đó là châu lục bị tấn công bởi Viking từ phía bắc, Moor từ phía nam, Magyar từ phía đông và vẫn đi sau về tri thức và kĩ thuật so với thế giới Ả Rập và nền văn minh Trung Hoa.

Nhưng châu Âu sở hữu những điều được công nhận thực sự có giá trị: thừa hưởng nền văn hóa truyền thống của Hy Lạp và La Mã với chế độ dân chủ và trọng nhân tài, tuy không hoàn chỉnh. Điều này đối lập với những nền văn minh khác – chuyên quyền và độc đoán, giống Landes miêu tả bằng từ “hành động ép buộc” – chỉ sự lạm dụng quyền lực để chiếm đoạt mọi thứ mình muốn. Châu Âu còn có sự phân chia công bằng giữa các nhà cầm quyền chuyên chế, nhưng hình thức tài sản tư hữu vẫn tạo động lực và thúc đẩy kinh doanh. Đạo Cơ-đốc thời trung cổ cũng giới hạn hành vi của những nhà cầm quyền, bởi lẽ họ theo Chúa và không được áp bức dân lành. Sự ra lệnh dựa trên các giáo lí chỉ chấp nhận được khi được thực hiện theo kế hoạch, các quy định của luật và bảo vệ tài sản kiếm được một cách chính nghĩa.

Tất cả những điều này khiến châu Âu trở nên khác biệt. Bánh xe nước, mắt kính, đồng hồ, sách in là những phát minh của châu Âu thời trung cổ. Gutengerg xuất bản kinh thánh vào năm 1452 và đến năm 1501 hàng triệu cuốn đã xuất hiện khắp châu Âu. Trong khi đó, Trung Quốc vẫn bình lặng, bế quan tỏa cảng và không mảy may học hỏi những điều mới, đặc biệt khi tri thức đến từ những “kẻ ngoại lai”. Những người cầm quyền Trung Quốc thời đó, nếu nói theo ngôn ngữ hiện đại, thì họ “phát sốt vì quyền lực” – cai trị mọi thứ và đòi hỏi sự tuân lệnh tuyệt đối. Sản xuất thương mạị coi là mối họa.

“Tròn vẹn, đầy đủ, bề ngoài thì yên bình, hòa hợp đến im lặng, Trung Quốc cứ lạc trôi vài trăm năm mà không hề nao núng hay mở cửa. Tuy nhiên, điều đó đã khiến đất nước này tụt hậu so với thế giới.”

Vậy nên, châu Âu đã vượt mặt Trung Quốc bằng việc cải tiến và ứng dụng các phát minh. Khác với Trung Quốc, theo Landes thì “Châu Âu là một người học hỏi.” Mặc dù chế độ phong kiến đang tồn tại với vua và hoàng hậu, quý tộc và nông dân, châu Âu thời trung cổ vẫn có các thành và khu tự trị hùng mạnh. Đó như một thị trường tự do, không chỉ về sản phẩm mà còn về ý tưởng. Phổ cập giáo dục không chỉ là đặc quyền dành cho người giàu có, Landes nói: Ở châu Âu, mọi người đều có thể đọc, viết và xuất bản, dù là dân thường hay chính quyền. Động lực vừa đến từ khát khao muốn lưu trữ, vừa là sự tò mò.

Các quốc gia tạo nên sức mạnh cho mình bằng việc giỏi “tích lũy” – tổng hợp kiến thức và bí quyết qua thời gian, “đột phá” – chạm tới những giới hạn không tưởng thúc đẩy động lực tiềm tàng trong họ. Tác giả nhận ra ba yếu tố dẫn đến thành công của của châu Âu, biến nơi đây trở thành cái nôi của cuộc cách mạng khoa học và cách mạng công nghiệp sau đó:

  1. Sự tích lũy các kiến thức một cách tự giác do sự giao thoa của nhà thờ và chính quyền.
  2. Sự hình thành hệ thống kiến thức đã được chứng minh và công nhận một cách rộng rãi.
  3. Việc thường xuyên nghiên cứu được chấp nhận và coi là “phát minh của phát minh”.

Nước Anh vào thế kỉ XIX

Tại sao cuộc cách mạng công nghiệp lại xảy ra ở Anh? Đầu tiên, Landes phát biểu, quốc gia này đã phát triển một cơ sở hạ tầng mang tính xã hội, tri thức và chính trị để thúc đẩy kinh doanh: đó là một hệ thống vững chắc gồm quyền tài sản, giáo dục cơ bản và nâng cao, sự tự do cần thiết cho con người. Ở những khoản này, người Anh làm tốt hơn tất cả các quốc gia khác ở châu Âu. Nước Anh có thêm một lợi thế khác đó là không chịu nhiều sự hạn chế bởi tôn giáo, vậy nên đã thu hút nhiều người tài giỏi trong châu lục như những người làm đê đập và nông dân đến từ Hà Lan, những thương nhân Do Thái và những thợ thủ công người Pháp. Những người Anh theo đạo Thiên chúa mặc dù không thể trở thành thành viên trong nghị viện hay học đại học nhưng vẫn được tự do làm giàu.

Mặc dù nổi tiếng về chế độ phân giai cấp nhưng việc thăng tiến ở Anh vẫn được coi là dễ dàng so với các quốc gia khác ở châu Âu, và đương nhiên là hơn cả các quốc gia ngoài châu lục. Napoleon đã gọi Anh là “quốc gia của những người bán hàng”, và theo một hướng nào đó thì hoàn toàn chính xác bởi lẽ Anh là nước giàu lên bởi tiêu dùng. Hàng hóa được sản xuất ra để dân thường có thể mua được, không phải chỉ cho người giàu – dấu hiệu của một nền kinh tế hiện đại. Mặc dù vậy, ở thời điểm đó, bạn cũng sẽ không thể ngờ được khi bước sang thế kỉ XIX, nước Anh lại trở thành công xưởng của cả thế giới. Landes nhận định rằng: “Những gì nước Anh có thì họ đều có thể tự làm ra.” Có một sự khác biệt lớn giữa có khả năng, kiến thức và việc áp dụng chúng. Sự xuất sắc vượt trội của nước Anh “không phải Chúa ban cho, không phải tình cờ, mà là kết quả của lao động, sự khéo léo, trí tưởng tượng và hoạt động kinh doanh.”

Vương quốc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha

Quay ngược thời gian khi Trung Quốc vẫn đóng cửa với bên ngoài, thì vào thế kỉ XV, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha liều lĩnh vươn mình giao thương dọc bờ biển châu Phi tiến vào Ấn Độ. Với ham muốn có được vàng bạc, người Tây Ban Nha cuối cùng cũng đụng độ với người Inca. Vương quốc Inca có tất cả mọi thứ, nhưng những kẻ cầm quyền lại rất chuyên chế và nền văn hóa, như Landes nhận xét thì “tước đi của dân thường quyền tiên quyết, sự chủ động và cá tính”, Nhà vua theo chủ nghĩa xã hội, như một “người phân chia lớn” sở hữu tất cả đất đai. Vương quốc tập hợp các dân tộc khác nhau và thiết lập một ngôn ngữ chung, nhưng vì sự kết nối với thế giới bên ngoài bị hạn chế (họ thậm chí còn không sử dụng tài liệu ghi chép), nên đã đánh giá sai ý định của người Tây Ban Nha và tự huyễn hoặc mình là quá hùng mạnh, không thể bị lật đổ (một sự tự cao của hầu hết các vương quốc).

Landes gọi những người Tây Ban Nha là “những kẻ cắp”, thích đi cướp hơn là tự làm ra, và thường nhân danh Chúa. Sự kết hợp giữa lòng tham và “đạo đức” đã gây nên những tội ác tàn bạo và sự khai phá bừa bãi. Tuy nhiên, họ đã đạt được mục đích của mình: những thị trường mới được mở ra trên thế giới tạo ra khối tài sản khổng lồ, và Madrid trở thành thành phố giàu có nhất châu Âu.

Vậy thì tại sao Tây Ban Nha lại suy yếu? Tiền không được đầu tư mà lại được tiêu vào những thứ xa hoa và phục vụ cho chiến tranh. Bởi vì đất nước này không làm ra tài sản mới từ bất cứ ngành nào nên Landes cho rằng, họ cũng không có ý định dùng tiền một cách có hiệu quả hơn. “Giữ khư khư tài sản không thể nào tốt bằng lao động được, cũng như là có nhiều tiền thì không tốt bằng việc tiêu chúng đi vậy”, ông nói. Tây Ban Nha thiếu đi sự coi trọng lao động chăm chỉ, điều mà người Hà Lan, Anh, Pháp và Giơ-noa luôn đề cao, và còn có một niềm tin chết người vào quyền lực của tôn giáo và xã hội của họ. Họ phải dựa vào “người nước ngoài” để giao thương và làm việc, trong khi đó lao động tay chân bị khinh rẻ.

Quan điểm của Landes cho rằng Tây Ban Nha trở nên nghèo do có quá nhiều tiền, trong khi những nước khác phải rèn luyện thói quen làm việc để tạo ra những tài sản lâu bền hơn. Vào lúc Tây Ban Nha còn đang quyết định xem tiêu vàng như thế nào thì ở những nơi khác trên khắp châu Âu, con người đang học cách dệt vải, rèn sắt, dùng gỗ, chế biến dầu cá voi, và khai thác mỏ – những sản phẩm nghe thì không hấp dẫn bằng tiền vàng, nhưng công việc làm ra chúng đảm bảo rằng nếu có tiếp tục duy trì thì cũng không phải là lãng phí.

Thành công của Bồ Đào Nha là một điều đáng ngạc nhiên. Một đất nước chỉ có một triệu người vào thế kỉ XV mà có thuộc địa từ Đông Ấn, Ấn Độ đến Brazil, nổi tiếng với việc “chiếm một nửa thế giới” cùng Tây Ban Nha. Tuy nhiên, Bồ Đào Nha lại tự đào hố chôn mình khi du nhập đạo Cơ-đốc chính thống từ người anh láng giềng. Những người Do Thái chạy trốn đến Bồ Đào Nha từ Tây Ban Nha để tránh sự hành hạ nhận ra rằng bản thân họ cũng không khá hơn là bao với những cuộc tàn sát đẫm máu khiến nhiều người chết và số còn lại bị bắt chuyển sang đạo Cơ-đốc. Đây là một lỗi lầm tai hại bởi người Do Thái là những nhà buôn chính trong nền kinh tế đồng thời cũng là những nhà khoa học lỗi lạc. Họ mất đi gần hết, và Bồ Đào Nha, như Landes nói, “bước vào vào vực thẳm của sự mù quáng, cuồng tín và thanh khiết.” Toà án Dị giáo Bồ Đào Nha làm theo Tây Ban Nha, thiêu sống những người theo giáo phái khác, và thậm chí trở nên tồi tệ hơn khi hai quốc gia sáp nhập làm một dưới thời vua Philip II.

Bồ Đào Nha đánh mất thế dẫn đầu về khoa học, giáo dục bị kiểm soát nghiêm ngặt bởi nhà thờ. Điều này duy trì sự tồn tại của vương quốc, nhưng lại làm mất đi sự chiếm lĩnh trong các ngành khoa học quan trọng như thiên văn và hàng hải, đồng thời làm giảm năng suất nông nghiệp. Những ý tưởng và kĩ thuật mới trong công cuộc cải cách của người theo đạo Tin lành đã theo một lẽ tự nhiên vượt xa Bồ Đào Nha. Đến năm 1700, Bồ Đào Nha “trở nên yếu thế và lạc hậu.”

Vậy mô típ cơ bản đã lặp lại nhiều lần trong lịch sử và đương nhiên đã diễn ra với Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha chính là: sự bảo thủ = thất bại trong kinh tế.

Tầm quan trọng của văn hoá

Cũng vào năm 1998, cuốn sách bán chạy nhất của Jared Diamond có tên Súng, vi trùng và thép (Guns, Germs and Steel) đã lập luận rằng vị trí địa lí thuận lợi của châu Âu góp phần quan trọng trong thành công của của châu lục này. Điều đó gần đúng, nhưng Diamond không thực sự giải thích tại sao lại tồn tại sự chênh lệch giàu nghèo trong thế giới hiện đại. Landes cho rằng điều kiện tự nhiên là một phần rất quan trọng với sự phát triển của các quốc gia, nhưng “sẽ là một sai lầm nếu coi vị trí địa lí là yếu tố quyết định.” Châu Âu thì cũng may mắn thật, nhưng “vận may chỉ là khởi đầu.”

Một vài nhà sử học, theo Landes, thì họ luôn tìm kiếm “một lịch sử đa văn hoá, mang tính toàn cầu, quân bình mà thể hiện một điều gì đó (thường là điều tốt) về mọi người.” Trong nhân sinh quan ấy, thành công của châu Âu hay Mĩ được coi là một may mắn. Nhưng nếu đúng như vậy, làm sao chúng ta có thể giải thích được quá trình công nghiệp hoá và sự thịnh vượng của các quốc gia châu Á như Malaysia, Singaopre, và Hàn Quốc kể từ Thế chiến II – khi hầu hết các quốc gia châu Phi và Nam Mĩ dậm chân tại chỗ hoặc thụt lùi? Liệu có phải sự tiến bộ của các nước này chỉ đơn thuần là tình cờ?

Những luận điểm như trên rõ ràng bỏ qua nỗ lực của con người – của những người hầu hết là chỉ là thường dân. Một giả thuyết khác là: Có thể những quốc gia khác không muốn công nghiệp hoá và bắt chước những thể chế phương Tây; họ hoàn toàn chống lại mọi dạng thức của chủ nghĩa đế quốc. Có điều, để nói về vấn đề này, Landes công nhận rằng giàu là giàu và nghèo là nghèo, nhưng hầu hết các quốc gia đều có nhiều cơ hội để phát triển. Vậy, đâu là “nhân tố bí ẩn” tạo nên sự khác biệt giữa những quốc gia phồn thịnh và số khác thì đang tàn lụi?

Những học giả quan tâm đến mối liên hệ giữa văn hoá và kinh tế học đều không thể bỏ qua bài luận nổi tiếng của Max Weber có tên “Đạo lí đạo Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản.” Mặc dù bài luận bị chế nhạo bởi các nhà sử học nhưng Landes nói rằng có nhiều bằng chứng cho giả thuyết những đức tính như lao động chăm chỉ và thật thà của đạo Tin lành ở châu Âu đã làm nên sự giàu có. Cuộc cải cách của những người theo đạo Tin lành đi cùng với mức độ phổ cập giáo dục ngày càng cao, kéo theo sự hoài nghi về sự cần thiết của những giáo lí với sự phát triển của khoa học. Từ đó, một nền văn hoá của sự đọc, học và tìm hiểu rộng rãi – rất khác so với Trung Quốc và Tây Ban Nha – được ra đời. Khả năng tiến bộ thay thế sự tôn thờ tăm tối vào chính quyền và thay vì gây ra tội ác, trí tò mò và cải tiến thường là con đường dẫn đến sự phồn vinh. Những quan điểm như vậy, dĩ nhiên, đóng vai trò quan trọng trong thành công của nước Mĩ.

Vậy nên, “nhân tố bí ẩn” đó chính là một nền văn hoá của sự tiến bộ mà kết hợp sự ham tìm tòi, cải tiến và áp dụng.

Ngạc nhiên là, câu hỏi về nhận diện một nền văn hoá thành công về mặt kinh tế là một điều cấm kị ở một vài nơi vì nó có vẻ đụng chạm đến chủng tộc và tầng lớp. Thật là một điều tiếc nuối lớn nếu suy nghĩ như vậy bởi Nước giàu, nước nghèo là một kho tàng kiến thức về quy luật cơ bản của thành công mà có hiệu quả với bất cứ ai đã từng áp dụng.

“Điều mà chúng ta học được từ lịch sử của sự phát triển kinh tế chính là văn hóa tạo nên sự khác biệt… Tuy nhiên, văn hóa – xét về những giá trị nội tại và quan điểm đã định hướng số đông – thường khiến các học giả e ngại.”

Sự giàu có và nghèo đói của các quốc gia đạo Hồi

Nền văn minh Hồi giáo từng là hình mẫu của châu Âu khi dẫn trước cả về mặt học tập và văn hoá. Nhưng kể từ chiến thắng năm 1187, khi quân chữ thập đạo Cơ-đốc bị đẩy ra khỏi vùng Trung Đông, Landes cho rằng, “con đường Hồi giáo gần như xuống dốc”. Trong khi châu Âu đang tách bạch tôn giáo và khoa học, nhấn mạnh vào những sự thật, việc học tập và quá trình khoa học, đạo Hồi lại khăng khăng đi theo chính trị thần quyền: một quốc gia tốt là một quốc gia sùng đạo, và những đất nước đi theo khoa học sẽ không được tin tưởng.

Vậy họ đã để lại gì cho thế hệ sau? Ngoài những vương quốc đầy dầu mỏ ra, phần lớn các quốc gia Hồi giáo đều tù túng về kinh tế, và phần nhiều là độc quyền của nhau. Giống như những của cải người Tây Ban Nha cướp bóc được khi xâm chiếm Trung và Nam Mĩ, những mỏ dầu trời cho đối với các quốc gia Ả-rập là bất lợi hơn là lợi ích, họ không nhận ra sự cần thiết của việc phát triển những công ty công nghiệp có tính cạnh tranh cao trên trường quốc tế.

Những quốc gia Hồi giáo ngày nay lại đối mặt với một rào cản lớn khác đến sự phát triển và phồn vinh: phụ nữ tiếp tục bị loại ra khỏi lực lượng lao động. Landes lập luận rằng “dấu hiệu rõ nhất về sự phát triển của một quốc gia và tiềm năng phát triển là trạng thái và vai trò của phụ nữ. Đây là bất lợi lớn nhất của xã hội Hồi giáo Trung Đông ngày nay, là lỗi sai cản trở họ nhiều nhất khỏi sự tân tiến.”

Thế giới Ả-rập thích đổ tất cả nỗi thống khổ của họ lên Isarel, nhưng theo Landes, sự hoà bình của Trung Đông, nếu có một ngày xảy ra, đơn giản chỉ phơi bày thêm sự thất bại của hình mẫu kinh tế Hồi giáo mà thôi.

Kết luận cuối

Với hơn 500 trang sách, Nước giàu, nước nghèo phức tạp và tinh vi hơn rất nhiều những gì phần tóm tắt này có thể truyền tải, và ở đây chỉ có chỗ cho vài ví dụ trong lập luận của Landes. Quyển sách rất đáng để đọc hai lần: một lần để hiểu nội dung bao quát, một lần để ngẫm những chi tiết thú vị. 

Nhan đề, dĩ nhiên, được truyền cảm hứng bởi cuốn The Wealth of Nations của Adam Smith (1776), nhưng Landes quyết định rằng việc tìm hiểu sự nghèo khó cũng quan trọng như là giàu có, bởi vì “thất bại là mẹ thành công”. Liệu ông có tìm ra những điểm chung của các quốc gia không thành công? Tác giả công nhận rằng mình không hoàn toàn đúng xét về mặt chính trị, nhưng phương pháp của các quốc gia đó gần như là một thất bại khi áp dụng. Trong trường hợp của Mĩ Latin, ông viết rằng thậm chí sau 200 năm độc lập về chính trị, những nước này vẫn không bứt lên được bởi sự thiếu quản lí và tham nhũng, họ bị kéo đi bởi vay nợ và sự thao túng của đồng tiền. Mọi quốc gia từng là thuộc địa đều nhận ra rằng độc lập không đồng nghĩa với hạnh phúc và thịnh vượng; những nền công nghiệp phải tăng trưởng từ từ, người dân được giáo dục, các cơ quan được xây dựng.

Vài đặc điểm của những nước giàu có vì thế nên trở thành một quy chuẩn cho sự tiến bộ: sự mở mang với các tác động từ bên ngoài, niềm khao khát được sản xuất hơn là tiêu dùng, đánh giá cao việc học, tập trung vào việc khám phá ra sự thật; và chính quyền do dân, vì dân. Ngược lại, những người theo đạo tìm kiếm sự thuần khiết tuyệt đối chỉ là những chứng bệnh nhanh chóng giết chết nền kinh tế.

Những quốc gia lạc quan, chăm chỉ sẽ luôn có lợi thế, nhưng đó là do đặc điểm của những cá nhân, và khi có đủ nhiều những cá nhân suy nghĩ theo cùng một hướng, chúng ta được một nền văn hóa. Trong sự thịnh vượng hay nghèo đói, thành công hay thất bại của những quốc gia, văn hóa đóng một phần quan trọng. Còn trong thành công hay thất bại của những cá nhân, “văn hóa” là tính cách, như là trung thực, kiên trì, chăm chỉ, có tầm nhìn, tính tự học và tinh thần dám làm, dám chịu.

Ở cuối sách, Landes thừa nhận rằng công thức “tự thân vận động” nghe thật rỗng tuếch. Nhưng thẳm sâu bên trong, mọi cá nhân, quốc gia hay công ty đều biết điều đó là đúng. Năng lực bẩm sinh luôn là một lợi thế, nhưng không ai được sinh ra đã thành công, cũng như chẳng quốc gia nào giàu có ngay từ thuở sơ khai.